Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỘC CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HS-ST
Ngày 06 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cầm Thị Đoa và bà Lò Thị Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hùng, Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh S – Phân trại tạm giam khu vực M:

- Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát: Bà Hoàng Thị Thanh N.

- Thư ký Tòa án: Ông Nguyễn Trọng Đ.

- Cán bộ, chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam khu vực M: Ông Đinh Trung B, ông Hà Tuấn A.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh S – Phân trại tạm giam khu vực M xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 86/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Vũ Đình B1, sinh ngày: 20/6/1992 tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Tổ dân phố E, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình S và bà Lê Thị T; có vợ là Lường Thị T1, có 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2025 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/3/2025, Vũ Đình B1 mang theo số tiền 700.000 đồng đi bộ tìm mua ma túy mang về sử dụng. Trên đường dân sinh của Tổ dân phố C, phường M, thị xã M, Vũ Đình B1 đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông tên là M, không quen biết 01 lọ nhựa có cuốn băng dính đen bên trong đựng ma túy hồng phiến (M) với giá 700.000 đồng, B1 cất giấu ma túy trong túi áo khoác bên trái rồi đi bộ về thì bị tổ công tác Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (PC04) Công an tỉnh S phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Vũ Đình B1: 01 lọ nhựa màu trắng có cuốn băng dính màu đen, bên trong đựng 33 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY, nghi là Methamphetamine.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã ra lệnh và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Đình B1 tại Tổ dân phố E, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La. Quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 20/3/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành mở niêm phong, cân xác định 33 viên nén màu hồng thu giữ của Vũ Đình B1 có khối lượng 3,23 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,49 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu B; Còn lại 28 viên có khối lượng 2,74 gam ký hiệu B1.

Tại Kết luận giám định số 408/KL-KTHS ngày 24/3/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu B là ma tuý; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,49 gam; Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 3,23 gam; Loại Methamphetamine”.

Cáo trạng số 43/CT-VKSMC ngày 26/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu truy tố bị can Vũ Đình B1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Đình B1 trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

* Tranh luận tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Đình B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:

  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đình B1 từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số vật chứng là 28 viên ma túy Methamphetamine có khối lượng 2,74 gam (ký hiệu B1) và một lọ nhựa màu trắng có quấn băng dính màu đen có nắp đậy màu trắng.
  • + Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Bị cáo Vũ Đình B1 nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
  • * Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình B1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an tỉnh S thu giữ vào ngày 20/3/2025 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 700.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an tỉnh S lập vào hồi 12 giờ 30 phút ngày 20/3/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, kiểm đếm số lượng, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Vũ Đình B1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 20/3/2025 bị cáo Vũ Đình B1 đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 3,23 gam Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mộc Châu đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; là đối tượng nghiện chất ma túy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với số vật chứng là 28 viên ma túy Methamphetamine có khối lượng 2,74 gam (ký hiệu B1) và một lọ nhựa màu trắng có quấn băng dính màu đen có nắp đậy màu trắng, xét là những vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Đình B1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vũ Đình B1, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Vũ Đình B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Vũ Đình B1 04 (B2) năm tù.

    Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 20/3/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng của vụ án:
  4. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc phong bì do Bưu điện V phát hành còn niêm phong mặt trước có ghi dòng chữ: “Vật chứng còn lại ký hiệu B1 = 2,74 gam cùng một lọ nhựa màu trắng vụ Vũ Đình B1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ngày 20/3/2025 tại tổ dân phố C, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La”. Tại mép dán giáp lai của phong bì thư được dán giấy niêm phong số 075202 do Công an tỉnh S phát hành, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong, chữ ký họ tên của Vũ Đình B1 cùng một hình dấu đỏ của Công an phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 83/BBVC-CCTHA ngày 30/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mộc Châu).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Vũ Đình B1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/6/2025).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND thị xã Mộc Châu;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục THADS thị xã Mộc Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA HS;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đỗ Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 83/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Vũ Đình B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 20/3/2025 bị cáo Vũ Đình B đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 3,23 gam Methaphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự quy định bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger