|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2025/HS-ST |
|
|
Ngày: 03/4/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Ông Nguyễn Hải Phùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lương Tuấn Giang – Kiểm sát viên.
Trong ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2025/QĐ - HPT ngày 13 tháng 03 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Anh T, S năm 1978; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A ngách E ngõ Q, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Không nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Phạm Văn Đ (c); Con bà: Phạm Thị L (c); Vợ: Nguyễn Thu H; Con: có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền sự: Không; Tiền án: - Ngày 25/7/2019, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2020 (Chưa xóa án tích); - Ngày 21/10/2021, Tòa án quận C, Hà Nội xử phạt 42 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2023 (Chưa xóa án tích); D chỉ bản số 963 lập ngày 28/10/2024 tại Công an quận Đ; Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 18/10/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt.
Nhân thân:
- - Ngày 10/12/1999, Tòa án quận B, Hà Nội xử phạt 15 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân (Đã xóa án tích);
- - Ngày 28/8/2002, Tòa án quận B, Hà Nội xử phạt 50 tháng tù giam về tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Đã xóa án tích);
- - Ngày 07/7/2009, Tòa án quận Đ, Hà Nội xử phạt 34 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân (Đã xóa án tích).
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Anh T: Luật sư Đinh Đức D1 và luật sư Nguyễn Ngọc H1 – Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H. Luật sư D1 có mặt, luật sư H1 vắng mặt.
2. Họ tên: Nguyễn Văn H2, Sinh năm 1968; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số H tổ B, phường P, quận Đ, Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số C ngách F ngõ B T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/10; Tham gia Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Trọng H3 (c); Con bà: Hoàng Thị Đ1 (c); Vợ: Nguyễn Thị H4; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2005; Tiền án: - Ngày 17/01/2007, Tòa án huyện C, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (chưa nộp án phí, chưa nộp số tiền hưởng lời bất chính, chưa được xóa án tích); - Ngày 23/7/2009, Tòa án quận Đ, Hà Nội xử phạt 38 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Chưa nộp án phí, chưa nộp số tiền hưởng lời bất chính, chưa được xóa án tích); D chỉ bản số 965 lập ngày 28/10/2024 tại Công an quận Đ; Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 18/10/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Có mặt.
Nhân thân: Có 07 tiền sự đã hết thời hiệu: Từ năm 1984 đến năm 2013, Nguyễn Văn H2 bị xử phạt hành chính về các hành vi Trộm cắp tài sản của công dân; Đánh bạc; Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ.
- - Ngày 26/11/1988, Tòa án quận Đ, Hà Nội xử phạt 20 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân (Đã xóa án tích).
- - Ngày 27/8/1991, Tòa án quận Đ, Hà Nội xử phạt 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân (Đã xóa án tích).
- - Ngày 14/11/1994, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 07 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản của công dân (Đã xóa án tích);
- - Ngày 15/12/2017, Tòa án quận T, Hà Nội xử phạt 40 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Đã xóa án tích).
Bị hại:
- Ông Võ Nguyễn Viết T1, sinh năm 2005; Trú tại: Số A ngách B K, phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Phú G, sinh năm 1998; Trú tại: Số C V, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Phạm Văn T2, sinh năm 2002; Trú tại: Số H T, phường K, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Xuân H5, sinh năm 1965; Trú tại: Số A ngách A T, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Đào Quang T3, sinh năm 1992; Trú tại: Thôn K, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Đặng Hoàng Đ2, sinh năm 2006; Trú tại: Thôn T, xã Q, huyện P, Thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 2003; Trú tại: Khu D, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1976; Trú tại: Số C ngách F ngõ B T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Bà Nguyễn Thu H, sinh năm: 1982; Trú tại: Số G Đê L, phường N, quận B, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/10/2024, Phạm Anh T và Nguyễn Văn H2 hẹn nhau đi trộm cắp xe máy. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Văn H2 điều khiển xe máy Honda Vision màu đỏ đen BKS 29P2-015.54 đón Phạm Anh T ở khu vực hồ B, chở đi lang thang trên các tuyến phố khu vực quận Đ để tìm xe máy sơ hở. Khi đi đến khu vực số I, phố T, phường L, quận Đ, Hà Nội, T phát hiện 01 xe máy Honda wave Alpha màu xanh đen BKS 29AN-027.15 của anh Đặng Hoàng Đ2 (Sinh năm: 2006; Địa chỉ: Thôn T, xã Q, P, Hà Nội) dựng trên vỉa hè không có ai trông giữ. T và H2 dừng xe ở vỉa hè đối diện, H2 đứng cảnh giới, T lén lút tiến lại chiếc xe, dùng bộ vam mang theo phá khóa chiếc xe máy. Sau khi phá được khóa, T mang chiếc xe gửi vào bãi gửi xe phố Ô, phường P, Đ, Hà Nội cho anh Nguyễn Mạnh H6 (Sinh năm 1972; Nơi thường trú: 103 ngõ B, phường G, B, Hà Nội) là nhân viên trông xe của Công ty TNHH MTV K điểm đỗ xe Hà Nội tại phố Ô, phường P, Đ, Hà Nội. T hứa sẽ chia lời cho H2 số tiền 500.000 đồng sau khi bán được xe máy trên. Sau đó, T và H2 ngồi uống nước tại vỉa hè khu vực ngã ba Ô - L thì bị tổ công tác Đội CSHS - Công an quận Đ triệu tập về làm việc. Khi phát hiện tổ công tác, T và H2 vùng lên bỏ chạy thì bị tổ công tác khống chế, khóa trói đưa về trụ sở Công an quận Đ.
Tại bản kết luận định giá số 255 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ ngày 01/11/2024 kết luận: 01 xe máy Honda Wave Alpha màu xanh đen, biển kiểm soát 29AN - 027.15, trị giá 19.500.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Anh T, Nguyễn Văn H2 khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, từ ngày 18/8/2024 đến ngày 18/10/2024, T đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản. Cụ thể như sau:
Vụ 1: Khoảng 19h00 ngày 18/8/2024, T và H7 (chưa xác định lai lịch) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen (không nhớ biển kiểm soát) chở nhau đi trộm cắp tài sản. Tại khu vực số D T, phường K, Đ, Hà Nội, T và H7 đã trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen, biển kiểm soát 85F1 - 423.97 của anh Võ Nguyễn Viết T1 (Sinh năm 2005; Nơi thường trú: Khu phố G, thị trấn T, N, Ninh Thuận). Sau đó, T bán chiếc xe này cho H8 (chưa xác định lai lịch) tại khu vực ngã ba Ô - L, phường P, Đ, Hà Nội với giá 3.800.000 đồng. T chia cho H7 500.000 đồng tiền công, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá số 255 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ ngày 01/11/2024 kết luận 01 xe máy Honda Wave RSX màu trắng đen biển kiểm soát 85F1 - 423.97, số khung RLHJA3855PY220880, số máy JA52E0568928 trị giá 17.257.240 đồng.
Vụ 2: Khoảng 18h00 ngày 29/9/2024, T và H7 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen chở nhau đi trộm cắp tài sản. Tại khu vực số nhà F T, phường L, Đ, Hà Nội, T và H7 đã trộm 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển kiểm soát 98F1 - 373.81, của anh Nguyễn Phú G (Sinh năm 1998; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã T, L, Bắc Giang). Sau đó T bán chiếc xe máy cho H8 tại khu vực ngã ba Ô - L, phường P, Đ, Hà Nội với giá 2.800.000 đồng. T chia cho H7 500.000 đồng tiền công, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá số 255 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ ngày 01/11/2024 kết luận: 01 xe máy Honda Wave Alpha màu trắng biển kiểm soát 98F1 - 373.81, số khung RLHJA392XMY441391, số máy JA39E2466594 trị giá 14.033.360 đồng.
Vụ 3: Khoảng 18h00 ngày 14/10/2024, T và H7 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen chở nhau đi trộm cắp tài sản. Tại khu vực số H T, phường K, Đ, Hà Nội, T và H7 đã trộm 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xám trắng, biển kiểm soát 35AF-025.08, của anh Phạm Văn T2 (Sinh năm 2002; Nơi thường trú: Xóm C T, xã Y, Y, Ninh Bình). Sau đó T bán chiếc xe này cho H8 tại khu vực ngã ba Ô - L, phường P, Đ, Hà Nội với giá 4.000.000 đồng. T chia cho H7 500.000 đồng tiền công, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá số 255 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ ngày 01/11/2024 kết luận: 01 xe máy Honda Wave Alpha màu xám trắng biển kiểm soát 35AF-025.08, số khung RLHJA3938RY722315, số máy JA70E0588468 trị giá 18.964.000 đồng.
Vụ 4: Khoảng 18h00 ngày 16/10/2024, T và H7 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen chở nhau đi trộm cắp tài sản. Tại khu vực số B ngõ F N, phường L, Đ, Hà Nội, T và H7 đã trộm 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 19AE - 039.78 của anh Nguyễn Đức N (Sinh năm 2003; Nơi thường trú: Khu D, xã Y, H, Phú Thọ). Sau đó T bán chiếc xe này cho H8 tại khu vực ngã ba Ô - L, phường P, Đ, Hà Nội với giá 2.800.000 đồng. T chia cho H7 500.000 đồng tiền công, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đối với chiếc xe mô tô trên tại thời điểm mất trộm do ông Nguyễn Xuân H5 (Sinh năm 1965; Nơi thường trú: Số A ngách A T, phường T, T, Hà Nội) là bảo vệ của phòng khám S1 ngõ D H, phường L, Đ, Hà Nội đang trông giữ. Ngày 16/10/2024, ông H5 đền bù số tiền 15.000.000 đồng cho anh N. Tại Cơ quan điều tra, ông H5 nhận dạng đối tượng lấy trộm chiếc xe chính là bị can Phạm Anh Tuấn. Anh N không yêu cầu đền bù và đề nghị trao trả chiếc xe cho ông H5.
Tại bản kết luận định giá số 255 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ ngày 01/11/2024 kết luận: 01 xe máy Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 19AE - 039.78, số khung RLHJA3939RY605696, số máy JA70E0271405 trị giá 17.636.000 đồng.
Vụ 5: Khoảng 09h00 ngày 18/10/2024, Phạm Anh T và Nguyễn Văn H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen, biển kiểm soát 29P2 - 015.54 chở nhau đi trộm cắp tài sản. Tại khu vực số C Xã Đ, phường P, Đ, Hà Nội, T và N đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu trắng, biển kiểm soát 29Y3 - 665.37 của anh Đào Quang T3 (Sinh năm 1992; Nơi thường trú: Thôn K, xã H, P, Hà Nội). Sau đó T bán chiếc xe này cho nam giới tên H8 tại khu vực ngã ba Ô - L, phường P, Đ, Hà Nội với giá 2.800.000 đồng và hẹn lấy tiền sau. T hứa hẹn sẽ chia lời cho H2 số tiền 500.000 đồng. Tuy nhiên chưa chia tiền cho H2 thì bị cơ quan Công an bắt giữ.
Tại bản kết luận định giá số 255 của Hội đồng định giá tài sản – UBND quận Đ ngày 01/11/2024 kết luận: 01 xe máy Honda Wave Alpha màu trắng, biển kiểm soát 29Y3 - 665.37, số khung RLHJA3923MY453446, số máy JA39E2478656 trị giá 15.199.000 đồng.
Đối với đối tượng H7 và đối tượng H8, Phạm Anh T khai không biết họ, tên, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ những đồ vật sau:
- - Thu giữ của Phạm Anh T: 03 thanh kim lọa một đầu dẹt, một đầu lục giác; 01 tay công hình chữ T; 01 giác nối điện; 01 mũ lưỡi trai màu xanh có họa tiết; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ thẫm; 01 quần sooc tối màu; 01 đôi dép lê màu trắng xanh; 01 điện thoại Iphone 11 màu tím, 01 điện thoại OPPO reno 3 màu trắng tím.
- - Thu giữ của Nguyễn Văn H2: 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi; 01 ắc quy nhãn hiệu GLOBE-WTZ4V màu đen, 01 tay công bằng kim loại dài khoảng 13cm; 01 ống kim loại hình trụ đường kính khoảng 8mm, dài khoảng 5cm; 01 vật kim loại hình trụ hai đầu lục giác dài khoảng 4cm; 01 đăng ký xe Honda Vision BKS 29P2-015.54 mang tên Lê Đức T4; 01 máy phá sóng màu đen có 08 ăngten; 01 dao bầu dài khoảng 35 cm; 01 áo khoác be màu vàng; 01 xe máy Honda Vision màu đỏ đen BKS 29P2-015.54.
- - Thu giữ của ông Nguyễn Mạnh H6 là nhân viên bãi xe 01 xe máy honda wave alpha màu đen BKS 29AN-027.15 kèm 01 vé gửi xe có mã QR.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố Phạm Anh T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Truy tố Nguyễn Văn H2 tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Phạm Anh T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
- - Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn H2 từ 36 tháng đến 40 tháng tù.
- - Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
- * Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu tím, 01 điện thoại OPPO thu giữ của bị cáo Phạm Anh T và 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi, 01 xe máy Honda Vision màu đỏ đen BKS 29P2-015.54 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2.
Tịch thu tiêu hủy 03 thanh kim loại một đầu dẹt, một đầu lục giác; 01 tay công hình chữ T; 01 giác nối điện; 01 mũ lưỡi trai màu xanh có họa tiết; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ thẫm; 01 quần sooc tối màu; 01 đôi dép lê màu trắng xanh thu giữ của bị cáo Phạm Anh T và 01 ắc quy nhãn hiệu GLOBE-WTZ4V màu đen, 01 tay công bằng kim loại dài khoảng 13cm; 01 ống kim loại hình trụ đường kính khoảng 8mm, dài khoảng 5cm; 01 vật kim loại hình trụ hai đầu lục giác dài khoảng 4cm; 01 đăng ký xe Honda Vision BKS 29P2-015.54 mang tên Lê Đức T4; 01 máy phá sóng màu đen có 08 ăngten; 01 dao bầu dài khoảng 35 cm; 01 áo khoác be màu vàng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền hưởng lời bất chính của bị cáo Phạm Anh T là 13.400.000 đồng.
- - Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã được bồi thường dân sự và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Người bào chữa cho bị cáo T có ý kiến: Bị cáo T thành khẩn khai báo, đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đã tự khai ra các vụ án khác, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tác động, đề nghị gia đình khắc phục toàn bộ hậu quả cho bị hại và nộp vào ngân sách nhà nước toàn bộ số tiền hưởng lời bất chính nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo T được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo T nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của nhà nước.
Tại phiên tòa bị cáo H2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn hối cải và đều không có ý kiến bào chữa cho mình cũng như không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Phạm Anh T và Nguyễn Văn H2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được trong vụ án. Kết quả định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo Phạm Anh T nảy sinh ý định rủ bạn bè xã hội của mình đi lang thang tìm kiếm xe sơ hở, rồi dùng vam phá khóa để trộm cắp tài sản. Bằng thủ đoạn như trên, từ ngày 18/8/2024 đến ngày 18/10/2024, bị cáo Phạm Anh T đã thực hiện trộm cắp 06 chiếc xe máy các loại, tổng trị giá tài sản là 102.589.600 đồng, thu lời bất chính 13.400.000 đồng. Trong ngày 18/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn H2 đã giúp sức cho bị cáo Phạm Anh T thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc xe máy tổng trị giá tài sản là 34.699.000 đồng. T có hứa sẽ chia cho H2 500.000 đồng/1 xe sau khi bán được xe. Tuy nhiên, T chưa kịp đưa tiền thì đã bị Cơ quan Công an bắt giữ.
[3]. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Phạm Anh T và Nguyễn Văn H2 đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo T có 02 tiền án vào năm 2019 và năm 2021 về tội trộm cắp tài sản, bị cáo H2 có 02 tiền án vào năm 2007 và năm 2009 về tội trộm cắp tài sản, chưa nộp án phí, chưa nộp số tiền hưởng lời bất chính nên tính đến lần phạm tội này vẫn chưa được xóa án tích. Do vậy lần phạm tội này của các bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự (tái phạm nguy hiểm). Bị cáo T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng trị giá tài sản là 102.589.600 đồng nên bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo Phạm Anh T theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Nguyễn Văn H2 theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự ổn định xã hội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo biết rõ hậu quả pháp lý xảy ra nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với mục đích vụ lợi cá nhân thể hiện ý thức của bị cáo là xem nhẹ pháp luật.
Trong một thời gian ngắn từ ngày 18/8/2024 đến ngày 18/10/2024, bị cáo Phạm Anh T đã thực hiện 06 vụ trộm cắp xe máy các loại. Trong ngày 18/10/2024, bị cáo Nguyễn Văn H2 đã giúp sức cho Phạm Anh T thực hiện 02 vụ trộm cắp xe máy. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân các bị cáo: Bị cáo Phạm Anh T có nhiều tiền án trong đó có 02 tiền án vào năm 2019 và năm 2021 về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, bị cáo H2 có nhiều tiền án, tiền sự trong đó có 02 tiền án vào năm 2007 và năm 2009 về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Qua đó thể hiện các bị cáo có nhân thân xấu, đã được pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian mới đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm. Bị cáo T thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản hơn bị cáo H2 nên cần xử phạt bị cáo T mức án cao hơn bị cáo H2.
Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo T đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả toàn bộ cho các bị hại và đã nộp toàn bộ số tiền hưởng lời bất chính vào ngân sách nhà nước. Từ những tình tiết trên Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T và áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo H2.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra các bị cáo phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền theo Khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Song xét các bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, hoàn cảnh gia đình các bị cáo khó khăn nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, vì vậy, miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Iphone 11 màu tím thu giữ của bị cáo Phạm Anh T và 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2. Qua điều tra xác định có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
01 điện thoại OPPO thu giữ của bị cáo Phạm Anh T. Xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Đối với 03 thanh kim lọa một đầu dẹt, một đầu lục giác; 01 tay công hình chữ T; 01 giác nối điện; 01 mũ lưỡi trai màu xanh có họa tiết; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ thẫm; 01 quần sooc tối màu; 01 đôi dép lê màu trắng xanh thu giữ của bị cáo Phạm Anh T và 01 ắc quy nhãn hiệu GLOBE-WTZ4V màu đen, 01 tay công bằng kim loại dài khoảng 13cm; 01 ống kim loại hình trụ đường kính khoảng 8mm, dài khoảng 5cm; 01 vật kim loại hình trụ hai đầu lục giác dài khoảng 4cm; 01 đăng ký xe Honda Vision BKS 29P2-015.54 mang tên Lê Đức T4; 01 máy phá sóng màu đen có 08 ăngten; 01 dao bầu dài khoảng 35 cm; 01 áo khoác be màu vàng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2. Xét thấy các đồ vật này liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 xe máy Honda Vision màu đỏ đen BKS 29P2-015.54 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2. Xét thấy chiếc xe này do bị cáo H2 trực tiếp mua lại tại chợ X, phường D, Cầu G, Hà Nội ngày 14/11/2023 với giá 37.500.000 đồng. Giấy tờ mua bán xe đứng tên vợ bị cáo là bà Nguyễn Thị H4. Bị cáo H2 và bà H4 đều xác nhận tiền mua xe là của chung vợ chồng, cả hai cùng sử dụng xe. Do vậy, xác định việc bị cáo H2 mua chiếc xe này là hợp pháp và tài sản của H2. Bị cáo đã dùng chiếc xe máy này làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tôi vì vậy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Trong vụ án này, các bị cáo Phạm Anh T và Nguyễn Văn H2 phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho ông Đào Quang T3 số tiền 15.199.000 đồng. Chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho ông Đào Quang T3 số tiền 7.599.500 đồng. Xác nhận gia đình bị cáo T do vợ là bà Nguyễn Thu H đã bồi thường cho ông T3 toàn bộ số tiền 15.199.000 đồng và không yêu cầu bị cáo H2 hoàn trả lại số tiền 7.599.500 đồng, ông T3 không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Gia đình bị cáo Phạm Anh T đã bồi thường cho ông Nguyễn Xuân H5 số tiền 17.636.000 đồng, bồi thường cho ông Võ Nguyễn Viết T1 số tiền 17.257.000 đồng, bồi thường cho ông Phạm Văn T2 số tiền 18.964.000 đồng, bồi thường cho ông Nguyễn Phú G số tiền 14.033.360 đồng. Ông H5, ông T1, ông T2 và ông G không yêu cầu bị cáo T bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Ông Đặng Hoàng Đ2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Đối với số tiền bị cáo Phạm Anh T thu lời bất chính là 13.400.000 đồng. Xác nhận gia đình bị cáo T đã nộp đủ số tiền trên. Xét đây là số tiền bị cáo được hưởng lợi từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với đối tượng H7 và đối tượng H8, bị cáo Phạm Anh T khai không biết họ, tên, địa chỉ ở đâu nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[7]. Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Anh T và bị cáo Nguyễn Văn H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: điểm c, g khoản 2 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Phạm Anh T 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2024.
Áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn H2 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2024.
- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.
Căn cứ:
- - Điều 46, 47 Bộ luật hình sự.
- - Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 màu tím thu giữ của bị cáo Phạm Anh T.
Trả lại cho bị cáo Phạm Anh T 01 điện thoại OPPO.
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 6s màu ghi và 01 xe máy Honda Vision màu đỏ đen BKS 29P2-015.54 thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2.
Tịch thu tiêu hủy 03 thanh kim loại một đầu dẹt, một đầu lục giác; 01 tay công hình chữ T; 01 giác nối điện; 01 mũ lưỡi trai màu xanh có họa tiết; 01 áo sơ mi ngắn tay màu đỏ thẫm; 01 quần sooc tối màu và 01 đôi dép lê màu trắng xanh thu giữ của bị cáo Phạm Anh T.
Tịch thu tiêu hủy 01 ắc quy nhãn hiệu GLOBE-WTZ4V màu đen, 01 tay công bằng kim loại dài khoảng 13cm; 01 ống kim loại hình trụ đường kính khoảng 8mm, dài khoảng 5cm; 01 vật kim loại hình trụ hai đầu lục giác dài khoảng 4cm; 01 đăng ký xe Honda Vision BKS 29P2-015.54 mang tên Lê Đức T4; 01 máy phá sóng màu đen có 08 ăngten; 01 dao bầu dài khoảng 35 cm và 01 áo khoác be màu vàng thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn H2.
(Tình trạng các vật chứng trên được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 155 ngày 28/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa).
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền hưởng lời bất chính của bị cáo Phạm Anh T là 13.400.000 đồng. (Bà Nguyễn Thu H vợ bị cáo T đã nộp thay theo biên lai thu tiền số 0019715 ngày 13/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa).
Về trách nhiệm dân sự:
Ông Đào Quang T3 đã được bồi thường số tiền 15.199.000 đồng. Bà Nguyễn Thu H không yêu cầu bị cáo H2 hoàn trả lại số tiền 7.599.500 đồng, ông T3 không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Ông Nguyễn Xuân H5 đã được bồi thường số tiền 17.636.000 đồng, ông Võ Nguyễn Viết T1 đã được bồi thường số tiền 17.257.000 đồng, ông Phạm Văn T2 đã được bồi thường số tiền 18.964.000 đồng, ông Nguyễn Phú G đã được bồi thường số tiền 14.033.360 đồng và ông Đào Quang T3 đã được bồi thường số tiền 15.199.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Ông Đặng Hoàng Đ2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xem xét.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trịnh Thị Hương |
|
Thành viên hội đồng xét xử |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Trịnh Thị Hương |
Bản án số 83/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 83/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Anh T và Nguyễn Văn H phạm tội Trộm cắp tài sản
