Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HS-PT

Ngày: 29-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kế Nghiệp

Các Thẩm phán:Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

Bà Trần Thị Trâm Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Huỳnh Thị Cẩm Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Trần Thị Ú, do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Bị cáo Trần Thị Ú, sinh năm 1977 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: Tổ D, khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Trần Văn T (chết) và bà Bùi Thị T1 (chết); Chồng: Trần Minh K và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2023;

Tiền án: Ngày 23/5/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (theo Bản án số 17/HSST). Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/5/2005, chưa thi hành án về phần trách nhiệm dân sự.

Tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại có kháng cáo: Anh Nguyễn Thành X, sinh năm 1990, (có mặt).

Nơi cư trú: Ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 9/2021, Trần Thị Ú có tình cảm và sống chung như vợ chồng với anh Nguyễn Thành X và có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thanh H, sinh ngày 05/01/2023.

Vào khoảng tháng 10/2023 anh Nguyễn Thành X đi làm ngư phủ đến ngày 09/01/2024 anh X về nhà. Trong thời gian này Trần Thị Ú nhiều lần đến nhà của bà Trần Thị H1 là mẹ của anh X để tìm anh X nhưng không gặp và dẫn đến mâu thuẫn giữa Ú và bà H1. Đến khoảng 13 giờ ngày 09/02/2024, Trần Thị Ú thuê xe ô tô, nhãn hiệu Hyundai, biển kiểm soát 68A-205.75 do anh Nguyễn Văn D làm chủ và lái xe với giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), đi cùng có con ruột là Nguyễn Thanh H, chị Trần Thị Bích N và cháu Trần Như Ý, đi đến nhà của bà Trần Thị H1 tại ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang để tìm anh X. Khi đến nơi, Ú gặp bà H1 với chồng bà H1 là ông Nguyễn Văn T2, lúc này Ú hỏi bà H1 anh X ở đâu, bà H1 nói Xem đi chợ T3 chút về. Lúc này giữa Ú và bà H1 cự cãi qua lại, sau đó bà H1 trình báo Công an ấp, ông T2 thấy vậy nên gọi điện thoại cho X về. Khi anh X về đến nhà, Xem sử dụng cây dao yếm cán gỗ, lưỡi kim loại dài khoảng 30cm trước đó Xem mua dao này ở Chợ T3 về để sử dụng gia đình rượt đuổi Ú, thì ông T2 can ngăn giật cây dao lại nên chưa gây thương tích cho Ú. Sau đó Công an ấp Mương 40, xã T đến giải quyết vụ việc thì Ú cùng H, N, Ý và anh D đi về.

Khi Trần Thị Ú đi ra đến căn nhà tiền chế, vách lá, mái tol, sàn gỗ dưới mé sông của anh X cách nhà bà H1 khoảng 100m, Ú đi vào nhà lấy trong cặp ra cái quẹt gas rồi đốt rèm che cao su màu cam của ghe tàu nhỏ đậu cặp căn nhà và cháy lan qua vách nhà lá của anh X. Khi Ú thấy căn nhà bốc khói và cháy thì Ú quăng hột quẹt xuống sông rồi nhanh chóng lên xe ô tô biển kiểm soát 68A-205.75 đi về. Khi đi được một đoạn thì Ú nói cho N, Ý và anh D đang trên xe biết là Ú đã đốt nhà anh X rồi. Ngày 09/02/2024, Công an xã T, huyện A tiếp nhận tố giác của anh Nguyễn Thành X yêu cầu xử lý hành vi vi phạm pháp luật của Trần Thị Út . Quá trình điều tra Trần Thị Ú thừa nhận toan bộ hành vi phạm tội của mình.

* Vật chứng của vụ án gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tổ chức truy tìm vật chứng là (01) một cái hột quẹt gas nhưng không tìm thấy

* Tại Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HDĐGTS ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện A kết luận:

  • - 01 (một) căn nhà tiền chế, vách lá, mái tol sàn lót gỗ dừa xây dựng năm 2017, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 35.000.000 đồng;
  • - 01 (một) tủ nhôm đựng quần áo mua mới 2016, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 1.250.000 đồng;
  • - 01 (một) tủ nhôm đựng chén mua mới 2016, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 1.000.000 đồng;
  • - 01 (một) đầu máy xe 3T63 nhãn hiệu YANMA mua năm 2020, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 3.000.000 đồng;
  • - 01 (một) bình ắc quy 100 AP hiệu GS mua mới tháng 9/2023, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 1.800.000 đồng;
  • - 01 (một) kiệu đựng nước mua mới năm 2020, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 400.000 đồng;
  • - 01 (một) miếng cào tôm 25m mua mới năm 2021, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 10.000.000 đồng;
  • - 100kg lưới lang, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 1.500.000 đồng;
  • - 02 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 1.500.000 đồng;
  • - 01 (một) hộp số Hà Nội 2,5 tua, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 2.000.000 đồng;
  • - 60m dây điện (15.000đ/m), giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 900.000 đồng;
  • - 01 (một) hộp nhong máy 2,2 tua, giá trị tài sản tại thời điểm định giá là 500.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là: 58.850.000 đồng (Năm mươi tám triệu tám tràm năm mươi ngàn đồng).

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ú phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Ú, 02 (H2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Trần Thị Ú và bị hại Nguyễn Thành X thống nhất thỏa thuận bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 58.850.000 đồng (Năm mươi tám triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo chưa bồi thường.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.

- Ngày 14 tháng 3 năm 2025 bị cáo Trần Thị Ú có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ngày 25 tháng 3 năm 2025 bị hại anh Nguyễn Thành X kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo và tăng mức bồi thường thiệt hại.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo thừa nhận Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo Điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng tội và giữ nguyên kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Ú về tội “Huỷ hoại tài sản” theo điểm b Khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử phạt các bị cáo mức án như 02 năm tù là phù hợp. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp không được hưởng án treo, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị hại không khiếu nại kết luận định giá. Tại phiên tòa, bị cáo, bị hại nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quyết định của bản án sơ thẩm:

Do có mâu thuẫn trong tình cảm và trong việc gia đình, nên vào khoảng 16 giờ ngày 09/02/2024, Trần Thị Ú đi đến nhà của anh Nguyễn Thành X ngụ ấp M, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang dùng quẹt gas đốt rèm che cao su màu cam của ghe tàu nhỏ đậu cặp căn nhà và cháy lan qua vách nhà lá của anh X, làm hủy hoại các tài sản, gồm: 01 (một) căn nhà tiền chế, vách lá, mái tol sàn lót gỗ dừa xây dựng năm 2017; 01 (một) tủ nhôm đựng quần áo mua năm 2016; 01 (một) tủ nhôm đựng chén mua năm 2016; 01 (một) đầu máy xe 3T63 nhãn hiệu YANMA mua năm 2020; 01 (một) bình ắc quy 100 AP hiệu GS mua mới tháng 9/2023; 01 (một) kiệu đựng nước mua năm 2020; 01 (một) miệng cào tôm 25m mua năm 2021; 100kg lưới lang; 02 cân đồng hồ hiệu Nhơn Hòa; 01 (một) hộp số Hà Nội 2,5 tua; 60m dây điện (15.000đ/m); 01 (một) hộp nhong máy 2,2 tua. Tổng trị giá tài sản bị hủy hoại theo kết luận định giá, trị giá là 58.850.000 đồng (Năm mươi tám triệu, tám trăm năm mươi nghìn đồng). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo Điểm b khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo và bị hại:

Xét thấy do nóng giận vì mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình nên bị cáo đã trực tiếp đến nhà anh X, dùng quẹt gas gây cháy căn nhà cùng nhiều tài sản trong nhà, qua định giá tổng tài sản bị thiệt hại là 58.850.000 đồng. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ phạm tội và vai trò của bị cáo trong vụ án, áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại cũng có một phần lần tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS và tình tiết tăng nặng là “tái phạm” được quy định điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, xử phạt bị cáo mức án đầu khung hình phạt 02 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, buộc bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản 58.850.000 đồng là phù hợp với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá. Bị cáo phạm tội với tình tiết tăng nặng “tái phạm” nên thuộc trường hợp không được hưởng án treo theo quy định tại khoản 6 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo nên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và yêu cầu tăng hình phạt, tăng bồi thường của bị hại thì cả bị cáo và bị hại đều không cung cấp được thêm tình tiết nào mới để HĐXX xem xét nên kháng cáo không có cơ sở chấp nhận.

[4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên: Đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp pháp luật nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại kháng cáo không được chấp nhận nên mỗi người phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị Ú và bị hại Nguyễn Thành X.

- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2025/HS-ST ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

2. Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Ú 02 (hai) năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị hại Nguyễn Thành X phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Các quyết định khác của Bản án số: 15/2025/HS-ST ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang, không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1 (1);
  • - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp. HCM (1);
  • - VKSND tỉnh KG (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh KG (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh KG (1);
  • - Cơ quan điều tra huyện (1)
  • - VKSND huyện (1)
  • - TAND; THA huyện (1)
  • - CC THADS huyện (1)
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Lưu (7).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kế Nghiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS-PT ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về hình sự phúc thẩm (hủy hoại tài sản)

  • Số bản án: 83/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Hủy hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị U - Hủy hoại TS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger