Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HS-PT

Ngày 10-6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thúy Quỳnh;

Bà Đoàn Thị Kiều Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Thái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Duy Việt - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 10 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 38/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hồng S, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hồng S; sinh ngày 20/11/1962, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú và chỗ ở hiện tại: Xóm T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hồng N (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị T; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị H và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 08/4/2004 bị Công an phường H, thành phố V xử phạt 500.000đ về hành vi Đánh bạc.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/11/2023; (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Trọng Đ; địa chỉ nơi công tác: Văn phòng L3 - Đoàn luật sư tỉnh N (Có mặt tại phiên tòa ngày 09/6/2025, vắng mặt ngày 10/6/2025)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty trách nhiệm hữu hạn H3.

Địa chỉ: Xốm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật:

Bà: Đinh Thị Thu H1, sinh ngày 20/01/1975;

Địa chỉ: K, phường H, TP V, tỉnh Nghệ An (Có mặt).

- Những người Làm chứng:

  • + Anh: Lang Văn K, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Có mặt).
  • + Anh: Nguyễn Ty C, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
  • + Anh: Nguyễn Văn D, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Xóm Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Có mặt).
  • + Anh: Nguyễn Châu T1, sinh năm: 1970; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
  • + Anh: Nguyễn Bá B, sinh năm: 1975; Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
  • + Anh: Lê Xuân Y, sinh năm: 1972; Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt).
  • + Anh: Nguyễn Bùi B1, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
  • + Anh: Nguyễn Châu L, sinh năm: 1985; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH H3 là một tổ chức kinh tế được Bộ T2 cấp giấy phép khai thác khoáng sản đá hoa (Đá vôi trắng) theo Quyết định số 204/GP-BTNMT ngày 20/02/2009 (sau đây gọi là Công ty H3) tại khu vực N đá Thung Mây thuộc xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (gọi là M đá Thung Mây). Để thuận tiện cho quá trình khai thác, vận chuyển đá, ngày 24/9/2007 Công ty TNHH H3 đã mua một phần đất với diện tích 3.500m² (đoạn đường từ Cổng đi vào Mỏ đá đi xuống khu khai thác đá và đi lên dàn xay trong Mỏ đá Thung Mây thuộc Công ty TNHH H3) nằm trong thửa đất số 98, tờ bản đồ số 03, tiểu khu H, GCNQSD đất số AG298632 cấp ngày 30/10/2006 cho hộ gia đình anh Lang Văn K, sinh năm: 1971, trú tại: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Trức đó ngày 12/12/2007, Nguyễn Hồng S nhận chuyển nhượng 2,5 ha đất rừng của thửa đất 98 nói trên (trừ đi phần đất đã bán cho Công ty TNHH H3) của anh Lang Văn K có xác lập bằng văn bản và chứng thực tại UBND xã T nhưng sau đó Chủ tịch UBND xã T huỷ bỏ theo Thông báo số 02 ngày 09/7/2008 với lý do: Diện tích đất chuyển nhượng giữa anh Lang Văn K và Nguyễn Hồng S có diện tích đất đã chuyển nhượng cho Công ty H3 theo văn bản thoả thuận lập ngày 23/9/2007. Nguyễn Hồng S cho rằng Công ty H3 đang khai thác đá trên diện tích đất của mình nhận chuyển nhượng của hộ gia đình anh K nên khoảng 09 giờ 30 phút ngày 02/7/2023, khi công nhân và các phương tiện xe ô tô, máy múc, dàn xay của Công ty H3 đang làm việc, khai thác để lấy sản phẩm cung cấp cho Công ty TNHH X (theo hợp đồng số 03/HĐKT/GEO/2023 ngày 01/7/2023 giữa Công ty H3 với Công ty TNHH X). Công ty H3 đã sử dụng 06 (sáu) phương tiện xe ô tô của Công ty K2 (theo hợp đồng số 01/HĐVC/HD-KA/2023 ngày 01/7/2023 với Công ty H3); 05 (năm) phương tiện xe ô tô của Công ty H4 (theo hợp đồng số 01.07/HĐVC/HD-HHP/2023 ngày 01/7/2023 với Công ty H3); 02 (hai) phương tiện xe ô tô của Công ty S1 (theo hợp đồng số 01.07/HĐVC/HD-SAREX/2023 ngày 01/7/2023 với Công ty H3), thì Nguyễn Hồng S đã đến cổng để đi vào Mỏ đá nhưng bị bảo vệ ngăn cản nên Nguyễn Hồng S đi vòng qua đường nhỏ vào mỏ đá rồi đứng chặn ở đoạn đường độc đạo dành cho các phương tiện vận chuyển đá từ khu vực khai thác vào dàn xay và ngược lại không cho các phương tiện di chuyển qua lại đoạn đường này. Nguyễn Hồng S đứng giữa đường chặn phương tiện đầu tiên là xe ô tô, biển kiểm soát: 37H-041-73 do anh Nguyễn Ty C điều khiển rồi nói với anh C và các lái xe khác: “Thông cảm với chú, đất này là đất của chú có bìa, công ty cho đi qua tôi không đồng ý, đề nghị các chú dừng xe; không được đi qua nữa, tắt máy đi”. Thấy vậy, anh Nguyễn Ty C buộc phải cho xe ô tô dừng lại thì hai xe ô tô biển kiểm soát: 37C-273.87 và 37C-054.14 do anh Nguyễn Châu T1 và anh Nguyễn Châu L đang điều khiển di chuyển trên đoạn đường này cũng phải dừng lại. Sau đó, anh Nguyễn Ty C gọi điện thoại cho anh Lê Xuân Y đại diện của Công ty H3 cùng một số nhân viên và bảo vệ đến gặp Nguyễn Hồng S để nói chuyện và yêu cầu Nguyễn Hồng S dừng lại, không được cản trở hoạt động của Công ty, anh Lê Xuân Y nói với Nguyễn Hồng S: “Khu vực này công ty đã khai thác từ năm 2009 đến nay, có gì sai thì ngày mai có cuộc họp ở trên U ngồi lại để trao đổi” nhưng Nguyễn Hồng S nói lại: “Bắt đầu từ hôm nay tôi cương quyết không cho xe và các máy, các loại phương tiện qua lại tuyến đường này”. Thấy vậy, anh Lê Xuân Y gọi điện thoại cho chị Đinh Thị Thu H1 là Giám đốc Công ty H3 biết sự việc trên. Sau đó, Nguyễn Hồng S ngồi lại tại đây và không cho các phương tiện chạy qua lại trên tuyến đường này nữa. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày khi thấy công nhân của Công ty đi về ăn cơm thì Nguyễn Hồng S cũng đi về.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, biết Công ty H3 sẽ tiếp tục hoạt động nên Nguyễn Hồng S đi đến Mỏ đá T và đi vào đứng chặn ở đoạn ngã ba con đường độc đạo bên trong Mỏ đá. Khi thấy công nhân và phương tiện xe ô tô của Công ty H3 bắt đầu vào làm việc thì Nguyễn Hồng S đứng ở đoạn dốc con đường này, dơ tay chặn xe ô tô, biển kiểm soát: 37C-273.87 do anh Nguyễn Châu T1 điều khiển không cho xe ô tô này di chuyển thì lần lượt các xe ô tô, biển kiểm soát: 37C-054.14 do anh Nguyễn Châu L, xe ô tô, biển kiểm soát: 37H-041-73 do anh Nguyễn Ty C và xe ô tô, biển kiểm soát: 37C-032.36 do anh Nguyễn Bùi B1 điều khiển cũng phải dừng lại. Nhận được thông tin thì anh Lê Xuân Y cùng bảo vệ và nhân viên Công ty đến yêu cầu Nguyễn Hồng S dừng ngay hành vi gây rối, anh Lê Xuân Y nói “Anh cản trở xe tôi không làm được” thì Nguyễn Hồng S nói lại “Đất của tôi có bìa mười mấy năm công ty đi qua không nói với tôi một câu, bây giờ tôi không cho đi”. Sau đó, Nguyễn Hồng S ngồi lại tại đây để ngăn cản nên công nhân và phương tiện dừng mọi hoạt động sản xuất trong công ty. Sau khi nhận được tin đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, chị Đinh Thị Thu H1 đến hiện trường và hỏi Nguyễn Hồng S: “Có chuyện gì mà ông chặn xe dừng việc khai thác của công ty tôi thế?” thì Nguyễn Hồng S nói: “Thôi có bà H1 lên đây, tôi gặp bà H1, tôi không cản trở xe nữa, tôi làm việc với bà Hl”. Nói xong Nguyễn Hồng S không làm việc với chị Đinh Thị Thu H1 mà bỏ đi ra khỏi khu vực Công ty rồi về nhà. Công ty H3 đã làm đơn trình báo với Công an xã T, huyện T để xử lý. Công an xã T tiếp nhận tin báo đã tiến hành xác minh sơ bộ ban đầu đến ngày 24/7/2023 Công an xã T chuyển tin báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 20/7/2023, Công an xã T, huyện T có báo cáo số 47/BC-CAX thể hiện: Hành vi của Nguyễn Hồng S làm mất an ninh trật tự trong Công ty H3 nói riêng, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự trên địa bàn xã T nói chung, làm cho nhân viên, công nhân, lái xe của Công ty và người dân hoang mang, lo lắng, sợ hãi.

Ngày 10/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 13 đến Hội đồng định giá tài sản UBND huyện T để định giá giá trị thiệt hại của Công ty H3. Bản kết luận số 24 ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện T kết luận:

  • - Giá trị thiệt hại khấu hao tài sản của Công ty H3 ngày 02/7/2023 là: 5.467.840 đồng (Năm triệu bốn trăm sáu mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi đồng).
  • - Chi phí phụ cấp tiền ăn của cán bộ công nhân viên ngày 02/7/2023 là 2.240.000 đồng (Hai triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
  • - Chi phí cho việc trả lương cho cán bộ công nhân viên Công ty H3 ngày 02/7/2023: Mức lương một ngày cho cho bộ phận sản xuất: 7.792.308 đồng (Bảy triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn ba trăm lẻ tám đồng); Mức lương + phụ cấp xăng xe, điện thoại + chi phí bảo hiển là: 1.832.923 đồng (Một triệu tám trăm ba mươi hai nghìn chín trăm hai mươi ba đồng).

Tổng giá trị thiệt hại của Công ty TNHH H3 trong ngày 02/7/2023 là: 17.333.071 đồng (Mười bảy triệu ba trăm ba mươi ba nghìn không trăm bảy mươi mốt đồng).

- Không đủ căn cứ để kết luận giá trị thiệt hại của các phương tiện ngày ngày 02/7/2023 gồm: 06 (sáu) phương tiện xe ô tô của Công ty K2; 02 (hai) phương tiện xe ô tô của Công ty S1; 05 (năm) phương tiện xe ô tô của Công ty H4.

Công văn số 39 ngày 16/10/2023 của UBND xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An thể hiện:

  • - Theo hồ sơ địa chính thửa đất số 98 tờ bản đồ số 3, diện tích 37.501 m² đất rừng sản xuất. Đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận QSD đất số phát hành AG 298632, cấp ngày 30/10/2006 mang tên ông Lang Văn K và bà Lang Thị H2. Ngày 24/9/2007, ông Lang Văn K đã chuyển nhượng phần diện tích 3500 m² tại thửa đất số 98, tờ bản đồ 03 cho Công ty H3.
  • Phần diện tích đất 3500 m² hiện nay Công ty H3 đã khai thác đá và làm đường vận chuyển, nằm trong phạm vi thuê đất đợt 1 được UBND tỉnh N phê duyệt tại Quyết định số 40/QĐ-UBND.ĐC ngày 17/03/2010.
  • - Đoạn đường hiện tại từ cổng đi vào Mỏ đá, đi xuống khu vực khai thác đá và đi lên dàn xay được chia thành 03 đoạn cụ thể như sau:
  • + Đoạn đường từ cổng Công ty đi đến khúc cua khuỷu tay nằm trong phần diện tích đất 3500m² tại thửa đất số 98 của ông Lang Văn K đã chuyển nhượng cho Công ty H3 và đã được UBND tỉnh N cho Công ty H3 thuê đất (Đợt 1) tại Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 17/03/2010 để sử dụng vào mục đích khai thác khoáng sản.
  • + Đoạn đường từ Cổng Công ty đi lên dàn xay trong phần diện tích đất 3500 m² tại thửa đất số 98 của ông Lang Văn K và phần diện tích đất 13434m² tại thửa đất số 91 của ông Lang Văn L1 đã chuyển nhượng cho Công ty H3 và đã được UBND tỉnh cho Công ty H3 thuê đất (Đ) tại Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 17/03/2010 để sử dụng vào mục đích khai thác khoáng sản.
  • + Đoạn đường từ khúc cua khỉu tay đi xuống khu vực khai thác đá một phần nằm trong phần diện tích đất 31036 m² tại thửa đất số 102 của bà Nguyễn Thị B2 đã chuyển nhượng cho Công ty TNHH H3 và đã được UBND tỉnh cho Công ty H3 thuê đất (Đ) tại Quyết định số 40/QĐ-UBND ngày 17/03/2010 để sử dụng vào mục đích khai thác khoáng sản. Phần còn lại diện tích 373,3 m² tại thửa đất số 98 của ông Lang Văn K, phần diện tích này ông K khẳng địch chưa chuyển nhượng cho ai và nằm trong khu vực Bộ TM&MT cấp phép khai thác đá hoa cho Công ty H3 tại Giấy phép số 204/GP-BTNMT ngày 20/02/2009 nhưng chưa được thuê đất.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đã quyết định:

  1. Căn cứ Khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo: Nguyễn Hồng S 06 (Sáu) tháng tù về tội: Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn tù kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo,

  1. Ttrách nhiệm dân sự: Áp dụng: Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S bồi thường thiệt hại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn H5 tiền: 17.333.071 đồng

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 01/02/2024 bị cáo nộp đơn kháng cáo tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo; đến ngày 06/02/2024 bị cáo nộp tiếp đơn kháng cáo với nội dung đề nghị hủy bản án số 09/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An và tuyên bị cáo không phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo gửi bản tường trình, kêu oan và tố cáo một số cán bộ công tác tại UBND xã T, huyện T tỉnh Nghệ An đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, và bổ sung nếu bị cáo phạm tội thì đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo. Đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Bị cáo là chủ thể có quyền kháng cáo, đơn kháng cáo đúng thể thức, nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm trong hạn luật định cho nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Nội dung vụ án: Bị cáo là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thừa nhận thực hiện những hành vi như nội dung phần nhận thấy của bản án sơ thẩm. Bị cáo cho rằng địa điểm bị cáo đã thực hiện những hành vi đó là không phải ở nơi công cộng và phần diện tích đất mà các xe ô tô chở đá của công ty H3 thuê doanh nghiệp khác đã đi trên phần diện tích đất thuộc quyền sở hữu của bị cáo; thấy rằng: Hành vi dừng xe ô tô của công ty H3 đã ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, làm đình trệ sản xuất bình thường của tổ chức kinh tế, gây thiệt hại về vật chất trực tiếp cho Công ty H3; điều này đã xâm hại đến các mối quan hệ xã hội về lợi ích, quy tắc xử sự chung được nhà nước bảo vệ, do đó mọi công dân phải tôn trọng để bảo đảm về an ninh, trật tự an toàn xã hội, không chỉ riêng địa điểm cụ thể “nơi công cộng” như bị cáo đã nêu trong đơn kháng cáo. Bởi vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết bị cáo phạm tội Gây rối trật tự công cộng là đúng pháp luật, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo đã quyết định hình phạt chính buộc bị cáo phải chấp hành 06 tháng tù là thỏa đáng.

Từ những đánh giá nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Buộc bị cáo phải chịu nghĩa vụ án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo và đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi và ngĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đề nghị của kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tố tụng: Ngày 25 tháng 01 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm có mặt bị cáo và tuyên án cùng ngày. Bị cáo Nguyễn Hồng S đã nộp đơn kháng cáo lần thứ nhất ngày 01/02/2024 với nội dung đề nghi Tòa án giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo; đến ngày 06/02/2024 bị cáo nộp tiếp đơn kháng cáo lần hai với nội dung đề nghị hủy bản án số 09/2024/HS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An và tuyên bị cáo không phạm tội Gây rối trật tự công cộng, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ sung đề nghị được hưởng án treo. Xét thấy, thể thức các đơn kháng cáo phù hợp với luật định; nội dung đơn kháng cáo nộp ngày 06/02/2024 là vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nhưng vẫn trong hạn cho phép, tại phiên tòa bị cáo bổ sung thêm đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là không vượt quá phạm vi kháng cáo. Căn cứ Điều 333; Điều 340 Bộ luật tố tụng hình sự; Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý và giải quyết theo quy định.

[2]. Việc xác định nhân thân của bị cáo và tư cách người tham gia tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án (BL 182) thì ngày 08/4/2004, bị cáo Nguyễn Hồng S đã bị Công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An xử phạt 500.000đ về hành vi Đánh bạc. Hồ sơ vụ án không có tài liệu bị cáo đã thực hiện chế tài xử phạt, tuy nhiên tính đến ngày bị cáo phạm tội đã quá thời hiệu thi hành quyết định xử phạt nên cần xác định bị cáo có nhân thân đã một lần bị xử phạt vi phạm hành chính.

Hành vi của bị cáo đã thực hiện là trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị hại là Công ty H3 là chưa chính xác.

[3]. Các tài liệu, chứng cứ do các cơ quan tiến hành tố tụng huyện T, tỉnh Nghệ An thực hiện, thu thập đều tuân thủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bởi vậy Hội đồng xét xử sơ thẩm sử dụng để đánh giá giải quyết vụ án là đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội của bị cáo:

Các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đủ căn cứ khẳng định:

Ngày 02/7/2023, tại đoạn đường vận chuyển đá từ điểm khai thác đến dàn xay và ngược lại trong Mỏ đá Thung Mây, thuộc xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Hồng S cho rằng trên phần diện tích đường các phương tiện vận tải do Công ty H3 thuê vận chuyển đá đang lưu thông là thuộc quyền sử dụng của mình, nên Nguyễn Hồng S đã ngăn chặn các phương tiện vận tải đó buộc các lái xe, công nhân dàn xay đá phải ngừng công việc (buổi sáng khoảng từ 09 giờ 30 phút đến 11 giờ 00 phút và buổi chiều khoảng từ 14 giờ 00 phút đến 16 giờ 00 phút cùng ngày 02/7/2023). Tuy nhiên phần diện tích đất mà bị cáo cho rằng thuộc quyền sử dụng của mình nhưng không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh bị cáo được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất thông qua các giao dịch theo quy định pháp luật về đất đai. Phần diện tích đất này bị cáo cho rằng đang có tranh chấp giữa bị cáo với Công ty H3 và các ông Lang Văn K, Lang Văn K1 và Nguyễn Bá L2 lẽ ra bị cáo phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhưng bị cáo không thực hiện điều đó mà chọn phương thức như hành vi đã thực hiện nêu trên.

Hành vi bị cáo đã thực hiện đã xâm hại đến các mối quan hệ xã hội về an ninh, trật tự an toàn xã hội trong một khu vực đó là lợi ích, quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo vệ. Tội phạm Gây rối trật tự công cộng không bắt buộc hành vi phạm tội phải thực hiện ở nơi công cộng như bị cáo đã trình bày. Hành vi bị cáo đã thực hiện đã trực tiếp làm đình trệ sản xuất bình thường gây thiệt hại về vật chất cho Công ty H3.

Từ phân tích, đánh giá trên đây, tính chất hậu quả hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị cáo đã thực hiện; Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ khẳng định bị cáo phạm tội: Gây rối trật tự công cộng được qui định tại khoản 1 Điều 318 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm là có căn cứ. Bởi vậy nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo: Hủy bản án sơ thẩm và tuyên bị cáo không phạm tội.

Xét nội dung kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo, thấy rằng: Đây là lần đầu bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thái độ khai báo là thành khẩn, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, không có tình tiết tăng nặng, bị cáo cơ nơi cư trú rõ ràng, việc buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn là chưa cần thiết vậy nên Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung này của bị cáo áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự giữ nguyên mức hình phạt và buộc bị cáo chấp hành án tại địa phương nơi cư trú cũng đủ sức răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5]. Trách nhiệm dân sự: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây thiệt hại trực tiếp cho Công ty H5 tiền: 17.333.071 đồng. Việc gây thiệt hại này có mối quan hệ nhân quả nên Hội đồng xét xử sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường là đúng, tuy nhiên việc ấn định lãi suất 50% đối với số tiền chậm thi hành án đã làm mất quyền thỏa thuận thi hành án và không đúng quy định tại các Điều 357; 468 Bộ luật dân sự. Từ nội dung này và nội dung được nhận định tại mục [2] trên đây Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Như vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357, sửa án sơ thẩm.

[6]. Án phí: Bộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng S; sửa bản án sơ thẩm.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng về tội: Gây rối trật tự công cộng. Thời hạn thử thách được tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hồng S cho UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; Trong thời gian thử thách bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

  1. Trách nhiệm dân sự:

Áp dụng: Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 589 Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S bồi thường thiệt hại cho công ty TNHH H5 tiền: 17.333.071đ (Mười bảy triệu, ba trăm ba mươi ba nghìn, không trăm bày mốt đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND h. Tân Kỳ;
  • - VKSND h. Tân Kỳ;
  • - Chi cục THADS h. Tân Kỳ;
  • - Công an h. Tân Kỳ;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Đồng Văn;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ, Toà Hình sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Văn Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HS-PT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 83/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger