Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26 - 5 - 2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con”

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn Hân Em.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Bà Dương Triết Minh.
  • 2. Ông Phan Minh Quốc.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: ông Bùi Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1995 (có mặt).
  2. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

  3. Bị đơn: ông Cao Phước T, sinh năm 1994 (vắng mặt).
  4. Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai ngày 18/4/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N (sau đây gọi là bà N) trình bày: sau thời gian tự tìm hiểu, bà N với ông Cao Phước T (sau đây gọi là ông T) tiến đến hôn nhân từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện T, tỉnh An Giang vào 18/4/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên là Cao Thụy Thùy D, sinh ngày 28/11/2012 và Cao Phước T1, sinh ngày 23/6/2019. Đến khoảng năm 2021, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do ông T thường xuyên uống rượu, mặc dù bà N nhiều lần khuyên ngăn nhưng ông T không thay đổi, từ đó vợ chồng thường

xuyên cãi vã nhau. Cha, mẹ hai bên có hòa giải nhưng do mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên đã sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay. Hiện tại 02 con chung là Cao Thụy Thùy D và Cao Phước T1 đang sống chung nhà với ông T tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Cháu D và cháu T1 đều được học hành ổn định.

Nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên bà N yêu cầu được ly hôn với ông T; về con chung, bà N đồng ý giao 02 con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, bà N không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Cao Phước T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công trực tiếp giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về việc thụ lý, về thời hạn giải quyết vụ án, về việc chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để tham gia xét xử. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các điều 70, 71; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên đã vi phạm các điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên: chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim N.

  • + Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với ông Cao Phước T.
  • + Về con chung: giao 02 con chung tên là Cao Thụy Thùy D, sinh ngày 28/11/2012 và Cao Phước T1, sinh ngày 23/6/2019 cho ông Cao Phước T trực tiếp nuôi dưỡng; bà N không phải cấp dưỡng nuôi con, do ông T không yêu cầu.
  • + Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét, giải quyết.
  • + Về án phí: bà N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện, bà N yêu cầu ly hôn với ông T, đồng thời yêu cầu giải quyết việc nuôi con. Vì vậy, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Cao Phước T có nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết

của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Cao Phước T đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập ông T đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo thủ tục chung.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà N và ông T tiến đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn nên được UBND xã T, huyện T, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2017, ngày 18/4/2017. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của bà N và ông T phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của bà N thấy rằng, bà N và ông T sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Bà N cho rằng, ông T không lo làm ăn, không quan tâm đến gia đình và nhiều lần đánh đập bà N, từ đó không còn tình cảm vợ chồng. Mặc dù được gia đình 02 bên hòa giải nhưng bà N và ông T vẫn ly thân, bỏ mặc nhau từ năm 2024 cho đến nay.

[3.2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ cho ông T thông báo hòa giải, nhằm tạo điều kiện cho ông T và N hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T đều vắng mặt, không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án. Tại phiên tòa, bà N xác định không còn tình cảm vợ chồng nên vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông T.

Từ những nhận định nêu trên, xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

[4] Về quan hệ con chung: bà N và ông T có 02 con chung tên là Cao Thụy Thùy D, sinh ngày 28/11/2012 và Cao Phước T1, sinh ngày 23/6/2019. Bà N đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu D và cháu T1; bà N không cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu D và cháu T1 đang sống chung với ông T và học hành ổn định. Tại biên bản ghi nhận nguyện vọng của cháu D ngày 18/4/2025 thì cháu muốn sống chung với cha. Do vậy, để không xáo trộn cuộc sống và tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất, tinh thần của cháu D và cháu T1, căn cứ vào khoản Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cháu Cao Thụy Thùy D và Cao Phước T1 cho ông T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông T không có ý kiến, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ông T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà N trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà N yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim N.

1.1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với ông Cao Phước T.

1.2. Về con chung: có 02 con chung tên là Cao Thụy Thùy D, sinh ngày 28/11/2012 và Cao Phước T1, sinh ngày 23/6/2019.

Giao cháu Cao Thụy Thùy D và Cao Phước T1 cho ông Cao Phước T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu D và cháu T1 đang sống chung với ông T). Bà N không phải cấp dưỡng nuôi con, do ông T không yêu cầu.

Ông Cao Phước T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị Kim N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0021827 ngày 28/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (bà N đã nộp đủ).

3. Về quyền kháng cáo:

đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh An Giang;

- VKSND huyện Thoại Sơn;

- Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;

- Các đương sự (để thi hành);

- UBND xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn,

tỉnh An Giang (để biết);

- Lưu Văn phòng;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Hân Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HNGĐ-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 83/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà N yêu cầu ly hôn với ông T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger