|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 3 - 2025
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh
-
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Thanh và ông Trương Hồng Thủy.
-
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Ba - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 465/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 192/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị K, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
-
- Bị đơn: Ông Võ Công D, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định.
(Bà K có mặt, ông D vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Phạm Thị K trình bày:
Bà và ông D tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Bồng Sơn ngày 30/12/2002. Sau kết hôn vợ chồng sống và làm ăn ở S, trong thời gian chung sống mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, mỗi lần đi nhậu về ông D thường hay kiếm chuyện chửi bới, đánh đập bà. Bà đã nhiều lần khuyên can nhưng vẫn tính nào tật nấy không thay đổi, vì không chịu đựng được nên bà phải bỏ ra đi sống riêng từ tháng 6/2024 cho đến nay và kể từ đó vợ chồng sống xa cách nhau, không ai quan tâm gì đến ai. Nay bà thấy vợ chồng sống không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng cũng không còn, bà yêu cầu được ly hôn. Vợ chồng có 02 con chung là anh Võ Công D1, sinh năm 1999 và chị Võ Thị Thanh T, sinh năm 2001 đều đã thành niên và có khả năng lao động bình thường nên không yêu cầu xem xét giải quyết. Tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn: Ông Võ Công D vắng mặt tại phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không có lời khai.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của bà K được ly hôn ông D. Về con chung, có 02 con chung là anh Võ Công D1, chị Võ Thị Thanh T đều đã thành niên nên không xem xét giải quyết. Tài sản chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình bà K phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
-
[1] Đây là vụ án “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông D có địa chỉ tại khu phố L, phường B, thị xã H, tỉnh Bình Định. Do đó Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
-
[2] Bị đơn ông D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.
Về nội dung:
-
[1] Bà K và ông D tự nguyện kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân thị trấn (nay là phường) Bồng Sơn ngày 30/12/2002 là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống mâu thuẫn vợ chồng xảy ra nguyên nhân là do tính tình không hợp, sống không tôn trọng lẫn nhau nên thường hay cãi vã, rồi bà K tự bỏ ra đi sống riêng từ tháng 6/2024 cho đến nay và kể từ đó vợ chồng sống xa cách nhau, không ai quan tâm gì đến ai, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng gay gắt, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà K được ly hôn ông D là có căn cứ và đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
-
[2] Bà K và ông D có 02 con chung là anh Võ Công D1, sinh năm 1999 và chị Võ Thị Thanh T, sinh năm 2001 đều đã thành niên và có khả năng lao động bình thường cho nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
-
[3] Tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
[4] Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà K phải chịu 300.000₫ sung vào công quỹ Nhà nước là đúng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
-
[5] Phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
-
- Về hôn nhân: Bà Phạm Thị K được ly hôn ông Võ Công D.
-
- Về con chung: Có 02 con chung là anh Võ Công D1, sinh năm 1999 và chị Võ Thị Thanh T, sinh năm 2001 đều đã thành niên và có khả năng lao động bình thường nên không xem xét giải quyết.
-
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Bà Phạm Thị K phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) sung vào công quỹ Nhà nước. Bà K đã nộp tạm ứng đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí số: 0006912 ngày 18/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn được tính trừ.
- Về kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, để Toà án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Nguyễn Văn Vinh |
Bản án số 83/2025/HNGĐ-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 83/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
