Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2025
“V/v ly hôn và nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông (bà) Nguyễn Thị Ngọc Thu
  2. Ông (bà) Lý Thị Kim Hân

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 79/2025/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 về việc “xin ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 425/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 193/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/6/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm: 1993.

ĐKTT: 248/7 KV2, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Chỗ ở hiện nay: Số B, khu vực T, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Trần Anh T, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: 1 đường C, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay của nguyên đơn Trần Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Năm 2018, bà Trần Thị N và ông Trần Anh T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, quận N, thành phố Cần Thơ ngày 13/06/2024. Thời gian đầu bà N và ông T chung sống hạnh phúc hoà thuận và có 1 con chung với nhau, nhưng sau một thời gian chung sống do phát sinh mâu thuẫn và quan niệm sống, cách nhìn nhận không còn phù hợp nữa. Xét thấy tình cảm giữa bà N và ông T không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay bà N yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với ông Trần Anh T.

Về con chung: Có 1 con chung: Trần Di B, sinh ngày 24/06/2020 đang sống với bà Trần Thị N. Sau khi ly hôn, bà N yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Di B và không yêu cầu ông Trần Anh T có phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Trần Di B.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện ban đầu và yêu cầu Hội đồng xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Trần Anh T.

Bị đơn ông Trần Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến tòa nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nhận định:

[1] Về thẩm quyền: bà Trần Thị N và ông Trần Anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường X, quận N, thành phố Cần Thơ nên xem là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, bà N và ông T phát sinh mâu thuẫn nay bà N có đơn khởi kiện nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”, vì ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường X, quận N, thành phố Cần Thơ nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Trần Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp pháp nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt ông T là phù hợp quy định của pháp luật.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông T tự nguyện đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn nên được xem đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà N và ông T phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hạnh phúc. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã triệu tập các bên đương sự đến để hòa giải đoàn tụ nhưng bị đơn vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án động viên đoàn tụ nhưng bà N vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn, chứng tỏ hôn nhân giữa bà N và ông T không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và ông T cũng không đến tham dự các phiên hòa giải, phiên tòa chứng tỏ rằng bị đơn cũng không còn tha thiết gì về cuộc hôn nhân này. Xét quan hệ hôn nhân, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống, yêu thương, quan tâm nhau để cùng nhau nuôi dạy con chung. Nhưng tình trạng hôn nhân của bà N và ông T không thể tiếp tục duy trì đời sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã sống ly thân nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn có cơ sở theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Do không ghi nhận được ý kiến của bị đơn nên căn cứ chứng cứ nguyên đơn cung cấp, bà N và ông T có 01 con chung tên Trần Di B (nữ), sinh ngày 24/06/2020 đang sống với bà Trần Thị N, về phần con chung bà N xin trực tiếp nuôi con và không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Để ổn định cuộc sống của cháu B, nên Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến nguyên đơn về người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Do bị đơn không đến tham dự các phiên hòa giải, phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến. Nếu có phát sinh tranh chấp về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn xác nhận không có tài sản chung và nợ chung. Do xét xử vắng mặt bị đơn nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác khi có yêu cầu.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo của các đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Căn cứ vào Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị N đối với ông Trần Anh T (Giấy chứng nhận kết hôn số: 51 do Ủy ban nhân dân phường X, quận N, thành phố Cần Thơ cấp ngày 13/6/2019).
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Di B (nữ), sinh năm: 24/6/2020 cho bà Trần Thị N tiếp tục nuôi dưỡng. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Trần Anh T không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích mọi mặt của cháu Trần Di B, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con và thay đổi yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Do xét xử vắng mặt ông Trần Anh T nên không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.
  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trần Thị N nộp 300.000 đồng (bằng chữ: ba trăm nghìn đồng), chuyển tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số ngày 18/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ,
  • - VKSND Q. Ninh Kiều,
  • - THADS Q. Ninh Kiều,
  • - UBND phường Xuân Khánh,
  • - Các đương sự,
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Hồ Mỹ Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 83/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Thoại Ngộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger