Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc



Bản án số: 83/2025/HNGĐ-STNgày: 23-6-2025V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Thành Đông.
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em – Kiểm sát viên.

Ngày 23/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 151/2025/TLST–HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 212/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Thành D, sinh năm 1973.

Địa chỉ: số nhà H, Lê Thị G, B, Phường T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Văn Thị Ngọc T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: số nhà D, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và đơn yêu cầu xem xét, giải quyết vắng mặt, nguyên đơn ông Lê Thành D trình bày:

Ông và bà Văn Thị Ngọc T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/9/2002. Sau khi kết hôn, thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Do có nhiều bất đồng quan điểm nên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Do nhận thấy không thể sống chung được nữa ông yêu cầu được ly hôn với bà T. Ông và bà T có 03 con chung là Lê Văn Ngọc T1, sinh ngày 07/7/2002, Lê Văn Ngọc D1, sinh ngày 09/11/2015 và Lê Văn Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2019. Khi ly hôn, ông đồng ý giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu D1 và cháu T2, ông không cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu T1 đã trưởng thành, có thể tự lao động nuôi sống bản thân nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: không có.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn bà Văn Thị Ngọc T trình bày:

Bà và ông Lê Hoàng D2 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 19/9/2002. Thời gian đầu, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm nên vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Bà và ông D2 sống ly thân từ năm 2019; bà về mẹ ruột tại xã T, huyện G sinh sống, ông D2 sống tại Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông D2 nên đồng ý ly hôn với ông D2.

Về con chung: Bà và ông D2 có 03 con chung là Lê Văn Ngọc T1, sinh ngày 07/7/2002, Lê Văn Ngọc D1, sinh ngày 09/11/2015 và Lê Văn Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2019. Cháu T1 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu D1 và cháu T2 hiện đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu, tự nguyện không yêu cầu ông D2 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa:

Ông Lê Thành D, bà Văn Thị Ngọc T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Quan điểm của Viện kiểm sát:

Về thủ tục: Nguyên đơn ông D không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 16/5/2025 là chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ Luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Ông D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn bà T thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bà T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Về nội dung: căn cứ quy định tại các điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Lê Thành D. Ông Lê Thành D được ly hôn với bà Văn Thị Ngọc T.

Về con chung: giao cháu Lê Văn Ngọc D1, sinh ngày 09/11/2015 và cháu Lê Văn Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2019 cho bà T nuôi dưỡng. Con chung Lê Văn Ngọc T1, sinh ngày 07/7/2002 đã trưởng thành, tự lao động sinh sống được nên không xem xét giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận bà T tự nguyện không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi cháu D1 và cháu T2.

Tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục:

Ông Lê Thành D khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với bà Văn Thị Ngọc T; bà T có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên toà, ông D, bà T vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

[1] Về hôn nhân: Ông Lê Thành D và bà Văn Thị Ngọc T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/9/2002. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa ông Lê Thành D và bà Văn Thị Ngọc T là hợp pháp. Ông D yêu cầu được ly hôn với bà T, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong thời gian chung sống, do bất đồng quan điểm nên vợ chồng ông D, bà T thường xuyên cự cãi. Hai bên đã ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay; thời gian dài nhưng ông, bà không tạo điều kiện và không hàn gắn tình cảm được. Trong quá trình tố tụng, ông D cương quyết giữ nguyên yêu cầu ly hôn và yêu cầu xét xử vắng mặt. Đồng thời, bà T thống nhất tình trạng mâu thuẫn hôn nhân như ông D trình bày, xác định không còn tình cảm với ông D và đồng ý ly hôn. Vì vậy, có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài và không còn khả năng hàn gắn. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của ông D là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về con chung: Ông D đồng ý giao hai con chung là cháu Lê Văn Ngọc D1, sinh ngày 09/11/2015 và Lê Văn Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2019 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông D không cấp dưỡng nuôi con; bà T đồng ý. Hiện tại cháu D1 và cháu T2 đang sống với bà T; tại biên bản hỏi ý kiến con từ 7 tuổi trở lên ngày 28/4/2025 cháu D1 có nguyện vọng sống với bà T. Do đó, để ổn định về tâm lý, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống và tạo điều kiện tốt nhất cho cháu D1 và cháu T2 nên việc giao cháu D1 và cháu T2 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về cấp dưỡng nuôi con, ghi nhận bà T tự nguyện không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Riêng con chung là Lê Văn Ngọc T1, sinh ngày 07/7/2002 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tài sản chung: Ông D, bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về nợ chung: Ông D, bà T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông D phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: ông Lê Thành D được ly hôn với bà Văn Thị Ngọc T.

  2. Con chung: giao cháu Lê Văn Ngọc D1, sinh ngày 09/11/2015 và Lê Văn Ngọc T2, sinh ngày 22/10/2019 cho bà Văn Thị Ngọc T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, ghi nhận bà Văn Thị Ngọc T tự nguyện không yêu cầu ông Lê Thành D cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Lê Thành D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Con chung là Lê Văn Ngọc T1, sinh ngày 07/7/2002 đã trưởng thành, tự lao động nuôi sống bản thân nên Tòa án không xem xét.

  3. Về tài sản chung: ông Lê Thành D, bà Văn Thị Ngọc T khai không có nên không xem xét giải quyết.

  4. Về nợ chung: ông Lê Thành D, bà Văn Thị Ngọc T khai không có nên không xem xét giải quyết.

  5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: buộc ông Lê Thành D phải nộp số tiền là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0010529 ngày 04/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Do đó, án phí sơ thẩm, ông Lê Thành D đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã Tân Thanh,
  • (Giồng Trôm, Bến Tre);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHÊN TÒA

Trần Thị Phượng Tường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 83/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thành D - Văn Thị Ngọc Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger