|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2025/HNGĐ-ST Ngày: 15-2-2025 Về việc: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Kim Hoa
Bà Võ Thị Vân Khánh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Quốc Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh.
Trong ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Lê Thị L, sinh năm: 1985; nơi cư trú: ấp H,xã N,huyện T,tỉnh Long An.(nay là ấp H,xã N,tỉnh Tây Ninh).
2. Bị đơn: ông Lê Duy K, sinh năm: 1983; nơi cư trú: ấp H,xã N,huyện T,tỉnh Long An.(nay là ấp H,xã N,tỉnh Tây Ninh).
(Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt mà không phải do sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, nội dung vụ kiện như sau:
Bà Lê Thị L và ông Lê Duy K tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn, giữa bà L và ông K chung sống có hạnh phúc với nhau và có 03 (ba) con chung. Thời gian gần đây giữa vợ chồng xảy ra dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng ý kiến, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi vã với nhau, cuộc sống tẻ nhạt. Bà L đã cố gắng níu kéo hạnh phúc gia đình để vợ chồng không đổ vỡ hạnh phúc nhân. Tuy nhiên, đến nay mâu thuẫn giữa vợ chồng vẫn không được khắc phục, sự việc kéo dài cho đến nay. Hiện nay, giữa bà L và ông K không còn hạnh phúc, không còn quan tâm đến nhau, mỗi người tự lo cuộc sống riêng. Bà L đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với ông K.
Về con chung: Trong thời gian chung sống với nhau, giữa bà L và ông K có 03 (ba) con chung là cháu Lê Thị Huyền T, sinh ngày: 02/02/2007, Lê Thành Phát sinh ngày: 26/12/2008 và Lê Thị Ngọc H sinh ngày: 25/2/2014 hiện nay con chung do bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên. Theo đơn ly hôn, chị không yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi.
Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn ông Lê Duy K: ông K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Toà án mặc dù Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông K nên hồ sơ vụ án không thể hiện ý kiến của ông K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hôn nhân gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại : ấp H,xã N,huyện T,tỉnh Long An (nay là ấp H,xã N,tỉnh Tây Ninh), tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: nguyên đơn có mặt tại phiên toà ; bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy đã đủ điều kiện xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân:
Bà Lê Thị L và ông Lê Duy K chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 11/2012 ngày 24/02/2009 nên quan hệ hôn nhân của bà Lê Thị L và ông Lê Duy K là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân dẫn đến ly hôn: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, bà L trình bày sau khi kết hôn, giữa bà L và ông K có cuộc sống hạnh phúc được thời gian đầu. Thời gian gần đây thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bất đồng, không hòa hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hợp tính tình, vợ chồng không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vả với nhau, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay bà L vẫn cương quyết đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với ông K.
Ông Lê Duy K đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng đã vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đến lần thứ hai và không có văn bản trình bày ý kiến của anh về yêu cầu xin ly hôn của bà L.
Hội đồng xét xử xét thấy bà Lê Thị L và ông Lê Duy K đã mâu thuẫn và đã sống ly thân với nhau, mỗi người đã có cuộc sống riêng, không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, cuộc sống nhân không hạnh phúc. Hiện nay bà L vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn với ông K. Do đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà L và ông K đã đến mức trầm trọng, tình cảm giữa vợ và chồng không còn, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Trong thời gian chung sống với nhau, giữa bà Lê Thị L và ông Lê Duy K có 03 (ba) con chung là cháu Lê Thị Huyền T, sinh ngày: 02/02/2007, Lê Thành Phát sinh ngày: 26/12/2008 và Lê Thị Ngọc H sinh ngày: 25/2/2014. Con chung do chị S đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, chị S đề nghị Toà án giải quyết giao con chung chưa thành niên cho chị S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian qua, con chung do chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm lo các mặt đời sống cho con và vẫn đảm bảo quyền lợi cho con. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị S về việc giao con chung là cháu Châu Khả V cho chị S tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng: theo đơn khởi kiện, chị S không yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Ông Lê Duy K được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: bà Lê Thị L xác định bà và ông Lê Duy K tự thỏa thuận tài sản với nhau,không nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[3] Về án phí: Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn được chấp nhận theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L:
1.1. Bà Lê Thị L được ly hôn với ông Lê Duy K.
1.2. Về con chung:
Chị chị Mai Thị Thảo S được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cháu Lê Thị Huyền T, sinh ngày: 02/02/2007, Lê Thành Phát sinh ngày: 26/12/2008 và Lê Thị Ngọc H sinh ngày: 25/2/2014.
Sau khi ly hôn, ông Lê Duy K có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bà Lê Thị L, ông Lê Duy K, người thân thích của cháu hoặc Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình, Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí: Bà Lê Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch. Chuyển 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị L đã nộp theo biên lai thu số 0003890 ngày 15/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An sang thành án phí.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Tân Thạnh; - Chi cục THADS huyện Tân Thạnh; - UBND xã Tân Hoà, huyện Tân Thạnh; - Các đương sự; - Lưu HS. - Lưu AV |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
Bản án số 83/2025/HNGĐ-ST ngày 15/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 83/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH - TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị L - Lê Duy K
