Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

TP.HÀ NỘI

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

*****

Bản án số: 83/2025/DS-ST

Ngày: 27/6/2025

V/v tranh chấp đòi tài sản và

chia thừa kế.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan
  2. Ông Đặng Như Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Tiến – Kiểm sát viên

Trong ngày 19/05/2025 và ngày 27/6/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 104/2022/TLST - DS ngày 01/12/2022 về việc “Tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/Q§XXST-DS ngày 11/09/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1981 – có mặt

HKTT và chỗ ở hiện nay: Số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thanh H1, sinh năm 1978; HKTT và hiện trú tại: Tổ H Đ, phường M, quận N, Hà Nội – vắng mặt ngày 19/05/2025. Có mặt ngày 27/06/2025.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1980 – có mặt

HKTT: Số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 – có mặt
  2. HKTT và chỗ ở hiện nay: Số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội.

  3. Cháu Nguyễn Ngọc Cao M, sinh năm 2012 – vắng mặt
  4. Cháu Nguyễn Ngọc Minh H3, sinh năm 2015 – vắng mặt
  5. Đều có HKTT và chỗ ở hiện nay: Số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội.

    Cháu M và cháu H3 do ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Thị T (bố, mẹ đẻ) làm người đại diện theo pháp luật.

  6. Cháu Nguyễn Đức Đăng K, sinh năm 2008
  7. Cháu Nguyễn Ngân H4, sinh năm 2011
  8. Đều có HKTT: phường D, quận C, Hà Nội

    Cháu K và cháu H4 đều do bà Nguyễn Xuân H2 (mẹ đẻ) làm người đại diện theo pháp luật.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn trình bày:

Ông làm đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân quận Thanh Xuân giải quyết tranh chấp chia tài sản chung và chia thừa kế nhà đất tại số A ngách A Q, N, T, Hà Nội. Do ông được thừa hưởng từ bà nội cho sử dụng 27m2 đất được gộp chung diện tích đất của bố ông được bà nội chia tại số A ngách A Q. Nay bố ông: ông Nguyễn Ngọc T1 (chết ngày 25/8/2021) không để lại di chúc nên ông đề nghị Toà án phân chia phần di sản thừa kế của bố ông theo pháp luật.

Nguồn gốc nhà đất tại ngách A Q, N, T, Hà Nội là của ông bà nội ông là cụ Nguyễn Ngọc K1 chết 20/01/1984 (hiện nay không lấy được giấy chứng tử do cơ quan nhà nước không lưu hồ sơ) và cụ Trần Thị N chết ngày 20/4/2011. Thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất số 28016-2000 ngày 03/11/2000 mang tên cụ Trần Thị N và cụ Nguyễn Ngọc K1 (chồng cụ N, lúc đó đã chết), có 277m2 diện tích đất thuộc thửa số 188 tờ bản đồ F48a-104.(9) có địa chỉ tại tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội. Vì thế cụ Trần Thị N có quyền định đoạt nên đã viết chúc thư viết tay là cơ sở để sau này phân chia tài sản của cụ K1 – cụ N cho các con chung là ông Nguyễn Ngọc K2, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Hoàng O, bà Nguyễn Hồng Y.

Bố ông là Nguyễn Ngọc T1 có vợ là bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ của ông và bà H2) chết ngày 25/7/2012 (theo giấy chứng tử số 47 do UBND phường N cấp ngày 26/7/2012). Ngoài ông và bà H2 thì ông T1, bà L không còn người con nào khác.

Bà nội ông là cụ Trần Thị N có viết một chúc thư để lại (dù chúc thư không ký tên và không ghi ngày tháng) nhưng các con cụ gồm ông Nguyễn Ngọc T1, ông Nguyễn Ngọc K2, bà Nguyễn Hoàng O và bà Nguyễn Hồng Y đều biết rõ di nguyện của cụ Trần Thị N khi lập chúc thư và được nói trước mặt các con của cụ về việc phân chia 277m2 đất ở có địa chỉ tại ngách A Q, N, T, Hà Nội cho các con và cháu là ông (Nguyễn Huy H). Cụ thể cụ N cùng các con của cụ phân chia như sau: ông Nguyễn Ngọc K2 được chia 70m2 đất ở; ông Nguyễn Ngọc T1 được 100m2 đất ở; bà Nguyễn Hoàng O được 40m2 đất ở; bà Nguyễn Hồng Y được 40m2 đất ở và ông được bà nội (cụ N) cho 27m2 đất ở. Sau khi phân chia thì trước sự chứng kiến của ông K2, bà O và bà Y, ông nói rõ là gửi 27m2 đất ở cùng kê khai gộp vào diện tích xin cấp sổ đỏ của bố ông – ông Nguyễn Ngọc T1.

Ngày 03/01/2010, Văn phòng C1 đã phát hành thông báo việc phân chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Ngọc K1 là cơ sở tiền đề để đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với thực tế khi địa chính đến đo xác định ranh giới mốc giới phân chia thì bà Y được 41,6m2; bà O được 41m2; ông K2 được 70m2; và diện tích gộp cả phần của ông với của bố ông là 124,4m2. Việc phân chia đã được thực hiện, bà Y, bà O, ông K2 và bố ông đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như diện tích đang quản lý, sử dụng và không ai có tranh chấp thắc mắc gì, ở ổn định cho đến nay. Lý do gộp cả diện tích 27m2 ông được cụ N cho với diện tích bố ông được chia là diện tích của cụ cho ông nhỏ (không đủ diện tích tối thiểu để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên khi mọi người họp lại, ông có ý kiến là gửi diện tích đất này vào cùng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang chung tên bố ông – Nguyễn Ngọc T1. Vì thế mà diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mang tên bố ông mới có tổng diện tích là 124,4m2 đất ở.

Năm 2002, bố mẹ ông có xây dựng căn nhà 3 tầng 150m2 sàn, số tiền xây lúc đó khoảng 150 triệu (không có giấy phép xây dựng). Năm 2008, bà H2 đi lấy chồng nên không chăm nom gì bố ông mà suốt quá trình sinh sống đến khi chết đều do ông chăm sóc, thuốc men. Bố ông nằm viện Đại học Y1 từ ngày 22/1 – 11/2/2020, sau đó chuyển sang V1 - ở K đến ngày 25/4/2020 thì vợ chồng cho ông T1 về nhà chăm sóc đến ngày 25/8/2021 thì ông T1 mất. Trong suốt quá trình từ khi vào viện đến khi mất, bố ông sống thực vật không nhận thức được gì. Bà H2 không chăm sóc bố, cũng không đóng góp tiền bạc, vật chất hay thuốc men chữa bệnh cho bố ông. Mọi việc chăm sóc, chi phí viện phí thuốc men đều do vợ chồng ông lo cho đến khi ông T1 mất. Căn nhà này, năm 2020, vợ chồng ông đã bỏ ra 50 triệu để sửa tầng 4.

Sau khi ông T1 mất ngày 17/4/2022, ông K2, bà O, bà Y tham gia họp cùng hai chị em ông. Tại buổi họp, ông K2, bà O, bà Y đã nhắc lại chuyện phân chia tài sản đất ở số nhà A ngách A Q. Bà H2 cùng mọi người thống nhất phân chia lập thành bản thoả thuận phân chia, trong đó bà H2 đã đồng ý về việc phân chia của ông K2, bà O và bà Y nên mọi người nhất trí đưa đầy đủ nội dung đã thống nhất vào văn bản. Đến khi ký thì bà H2 lại ghi không đồng ý nội dung họp về việc cụ N để lại di sản cho ông 27m2 đất ở (gộp trong diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho bố ông) mà yêu cầu chia di sản của bố ông theo pháp luật.

Vì lý do trên và theo nguyện vọng phân chia tài sản của bố ông theo pháp luật nên ông đề nghị Toà án giải quyết hoàn trả ông 27m2 từ quyền sử dụng đất chung mang tên ông Nguyễn Ngọc T1 từ diện tích chung 124,4m2 đất ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số BC787202, số vào sổ CH00498 do UBND quận T, cấp ngày 05/8/2010 sang quyền sử dụng đứng tên ông – Nguyễn Huy H. Diện tích đất còn lại sau khi đã trừ đi 27m2 đất ở của ông là 97m2 và căn nhà 3 tầng là di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại, đề nghị chia theo pháp luật. Về căn nhà 3 tầng là có công sức tạo lập của vợ chồng ông trong suốt thời gian bố ông sống, vợ chồng ông tận tâm chăm sóc bố cho đến khi qua đời, nên ông đề nghị Toà án định giá căn nhà và giao cho ông được quản lý sử dụng trên diện tích đất được phân chia cho ông.

Trong bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng bà H2 trình bày:

Bà không đồng ý với đề nghị của ông H về việc trả lại cho ông H 27m2 trên diện tích đất tranh chấp (do cụ N đã viết chúc thư với nội dung cho ông H 27m2). Bởi lẽ đây là chúc thư viết tay, không có chữ ký, không có ngày tháng. Vi bằng số 2505.2022 do ông Hoàng cung C có ghi nhận về chúc thư này nhưng được lập vào 23/5/2022 là sau thời điểm ông Nguyễn Ngọc T1 chết. Do đó, bà xác định chúc thư này không có giá trị pháp lý. Bà đề nghị xác định hợp đồng tặng cho tài sản được công chứng số 002023, quyển số 20/HĐTA lập ngày 08/7/2010 với nội dung: Cụ Trần Thị N tặng cho ông Nguyễn Ngọc T1 diện tích đất 124,4m2 trong thửa đất có tổng diện tích 277m2 là có giá trị pháp lý. Và ông T1 đã làm thủ tục sang tên, được cấp sổ đỏ số BC787202 ngày 05/8/2010 đúng với diện tích nhận tặng cho là 124,4m2 tại thửa đất số 118(1p) tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, T, Hà Nội. Theo đó, bà đề nghị chia thừa kế của ông T1 cho chị em bà đối với thửa đất này theo hướng chia đôi. Diện tích tại sổ đỏ là 124,4m2 nhưng diện tích đo thực tế là 131,9m2. Bà đề nghị chia đôi diện tích 131,9m2 cho bà và ông H mỗi người một nửa.

Về tài sản trên đất, bố bà có để lại ngôi nhà trên diện tích đất tranh chấp là nhà 3 tầng 1 tum (đã được Hội đồng định giá tài sản định giá) bà cũng đề nghị chia đôi ngôi nhà này cho bà và ông H mỗi người được hưởng một nửa giá trị ngôi nhà. Và bà đề nghị Toà án chia hiện vật cho bà được hưởng toàn bộ ngôi nhà để bà thờ cúng bố mẹ, bà sẽ có trách nhiệm thanh toán giá trị phần nhà mà ông H được hưởng. Vì bà đang phải đi thuê nhà để ở. Ngoài ra, bà đang là mẹ đơn thân nuôi 02 con (vì bà đã ly hôn chồng, chồng không cấp dưỡng) nên không có khả năng xây nhà mới. Trường hợp ông H muốn lấy nhà để ở thì phải thanh toán phần giá trị nhà mà bà được hưởng và thanh toán tiền thuê nhà cho bà trong khoảng thời gian bà phải đi thuê nhà để ở là 40.000.000 đồng (bà thuê từ tháng 8/2023 đến nay).

Về việc chăm sóc ông T1 lúc ông T1 ốm và thờ cúng tổ tiên là do ông T1 có 01 quyển sổ tiết kiệm nhờ bà T đứng tên trị giá 100.000.000 đồng, toàn bộ tiền thăm hỏi của mọi người do ông H, bà T giữ. Vì vậy, ông H, bà T có trách nhiệm chăm sóc ông T1 và thờ cúng tổ tiên là đúng nghĩa vụ.

Về phòng thờ, ông H cải tạo không xin phép và cải tạo khi tài sản chưa xác định là của ai thì phải khôi phục lại hiện trạng như cũ. Ngoài ra, việc cải tạo này được thực hiện trong thời điểm ông T1 đang hôn mê nên ông T1 không thể có ý kiến được.

Quá trình tham gia tố tụng, bà T – vợ ông H trình bày:

Bà có tham gia cùng chồng bà là ông Nguyễn Huy H để cải tạo phần tầng 4 ngôi nhà thành phòng thờ, nên bà cũng có công sức trong đó. Tuy nhiên, bà không đề nghị Toà án chia phần công sức đó cho bà mà đề nghị Toà án chia hết cho ông H và bà nhất trí theo đề nghị của ông H. Mặt khác, từ khi bà về làm dâu nhà ông H thì toàn bộ việc thờ cúng bố mẹ và tổ tiên là do vợ chồng bà đảm nhiệm. Khi vợ chồng bà cải tạo phòng thờ ở tầng 4 thì đã chuyển ông T1 lên tầng 2 để ở (có người trông do vợ chồng bà thuê ở cùng). Sau khi ông T1 chết thì mẹ con bà H2 ở tại tầng 2 đó.

Ngoài ra bà không có đề nghị gì khác.

Về nguồn gốc đất, toà án đã có văn bản hỏi cơ quan chức năng, được trả lời như sau:

Ý kiến của Văn phòng C1 – Chi nhánh quận T:

Ông Nguyễn Ngọc T1 là người sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số BC 787202 do UBND quận T cấp ngày 05/8/2010 tại địa chỉ tổ C K, phường N, quận T, TP Hà Nội, với nội dung:

  • Thửa đất số: 118 (1p); Tờ bản đồ số: F48a-104-9;
  • Đất ở: Sử dụng riêng: 124,4m2; Sử dụng chung: 0,0m2;
  • Nhà ở: Chưa chứng nhận quyền sở hữu

- Ông Nguyễn Ngọc T1 sử dụng đất tại thửa đất trên có nguồn gốc nhận tặng cho một phần của bà Trần Thị N được tách ra từ Giấy chứng nhận số BC 046500 do UBND quận T cấp ngày 04/06/2010.

Hiện Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội quận C1 chưa nhận được hồ sơ đăng ký biến động liên quan đến Giấy chứng nhận trên.

Ý kiến của UBND phường N, quận T, Hà Nội:

1. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng:

- Theo bản đồ và sổ mục kê năm 1960: vị trí thửa đất của ông Nguyễn Ngọc K1 thuộc 02 thửa là:

  • Thửa số 560, diện tích 130m2, loại đất T, chủ sử dụng: Nguyễn Ngọc K1.
  • Thửa số 561, diện tích 168m2, loại đất T, chủ sử dụng: Nguyễn Ngọc K1.

- Theo bản đồ và sổ mục kê năm 1978: vị trí thửa đất của ông Nguyễn Ngọc T1 thuộc 02 thửa đất là:

  • Thửa đất số 761, diện tích 130m2, loại đất Thổ, chủ sử dụng: Nguyễn Ngọc K1.
  • Thửa đất số 760, diện tích 168m2, loại đất Thổ, chủ sử dụng: Nguyễn Ngọc K1.

- Theo bản đồ và sổ mục kê năm 1995: vị trí thửa đất của ông Nguyễn Ngọc T1 thuộc thửa số 118, tờ bản đồ: F48a – 104 – 09, diện tích 277m2, chủ sử dụng: Trần Thị N.

2. Về quá trình sử dụng:

- Ngày 04/06/2010, UBND quận T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 046500 cho bà Trần Thị N.

- Ngày 08/7/2010, bà Trần Thị N có Hợp đồng tặng cho tài sản số 002023, quyển số 20/HĐTA lập tại Văn phòng công chứng Việt - thành phố C1 tặng cho ông Nguyễn Ngọc T1 một phần diện tích 124.4m2.

- Ngày 05/8/2010, UBND quận T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 787202 cho ông Nguyễn Ngọc T1.

3. Tình trạng tranh chấp khiếu kiện:

Tại thời điểm xác nhận đang có đơn tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế giữa nguyên đơn ông Nguyễn Huy H và bị đơn bà Nguyễn Xuân H2.

4. Về quy hoạch:

Theo bản đồ Quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 UBND phường N đã được UBND thành phố H phê duyệt tại Quyết định số 85/2006/QĐ-UBND ngày 01/6/2006: Một phần diện tích nằm trong quy hoạch mở rộng đường nội bộ khu dân cư chưa có quyết định thu hồi.

Toà án có công văn đề nghị UBND phường N cung cấp thông tin về diện tích thực tế dôi ra so với sổ đỏ tại số A ngách A phố Q (tổ C K), được UBND phường N trả lời:

Ông Nguyễn Ngọc T1 được UBND quận T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC787202 ngày 05/8/2010 tại thửa đất số 118 (1P), tờ bản đồ số F48a-104-9 với diện tích 124,4m2 có địa chỉ số A ngách A Q, phường N, quận T. Tuy nhiên, theo kết quả đo đạc hiện trạng nhà đất của Công ty cổ phần Đ tại thời điểm Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ (tháng 11/2023) thì diện tích hiện trạng thực tế của thửa đất là 131,9m2. UBND phường cung cấp thông tin diện tích dôi ra so với giấy chứng nhận mà gia đình được cấp như sau: Về tranh chấp ranh giới với tổ chức cá nhân nào không: tại thời điểm xác minh, UBND phường không nhận được đơn thư ý kiến liên quan. UBND phường đã có buổi làm việc với đại diện tổ dân phố, ông Nguyễn Huy H, bà Nguyễn Xuân H2 và ghi nhận các nội dung sau: Thửa đất trên là do bố mẹ ông Nguyễn Huy H và bà Nguyễn Xuân H2 để lại, khuôn viên thửa đất hiện tại vẫn giữ nguyên từ trước đến nay không thay đổi, gia đình không lấn chiếm, không mua bán hay nhận chuyển nhượng một phần. Diện tích hiện trạng chênh tăng 7,5m2 so với giấy chứng nhận đã được cấp là do sai số giữa các phương pháp đo đạc tại từng thời điểm. Theo ý kiến của tổ dân phố, đến thời điểm hiện tại tổ dân phố không nhận được ý kiến phản ánh của các hộ xung quanh về việc sử dụng đất nhà ông Nguyễn Ngọc T1. Các hộ liền kề cũng đã được xây dựng nhà ở kiên cố và có ranh giới rõ ràng.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở trên.

Bị đơn đề nghị chia đôi toàn bộ diện tích đất theo thực tế đo đạc là 131,9m2 (di sản của ông T1 để lại). Đối với căn nhà 3 tầng được xây dựng trên đất là di sản của ông T1, bà L để lại, bị đơn đề nghị chia cho bị đơn ¼ giá trị nhà, chia cho nguyên đơn ¼ giá trị nhà (do trong giấy khai sinh mà nguyên đơn cung cấp đề tên mẹ là Nguyễn Thị Bích L, không đúng với tên thật của mẹ bà là Nguyễn Thị L). Đồng thời bị đơn yêu cầu nguyên đơn phải thanh toán tiền thuê nhà cho bị đơn với số tiền là 120.000.000 đồng tính đến ngày xét xử vụ án.

Bà T giữ nguyên ý kiến như ở trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Thanh Xuân (Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký) và các đương sự về cơ bản đã tuân thủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, vụ án đã vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Việc xác định quan hệ tranh chấp “đòi tài sản” là chưa đúng. Vụ án chỉ có quan hệ tranh chấp “chia thừa kế”

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xác định toàn bộ nhà đất tranh chấp là di sản thừa kế. Không chấp nhận yêu cầu đòi 27m2 đất của nguyên đơn. Nhưng cần tính công sức duy trì, tôn tạo tài sản và công chăm sóc bố mẹ của nguyên đơn bằng 1/7 tổng giá trị tài sản thừa kế. Sau khi trừ đi 1/7 tổng giá trị tài sản cho nguyên đơn, phần tài sản còn lại chia đôi cho nguyên đơn, bị đơn. Chia cho nguyên đơn hưởng phần đất có nhà. Bác yêu cầu của bị đơn về việc buộc nguyên đơn thanh toán tiền thuê nhà 120.000.000 đồng.

Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở ý kiến của đương sự, Kiểm sát viên

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn đề nghị trả lại diện tích 27m2 đất và chia thừa kế phần diện tích còn lại là 97,4m2 cùng căn nhà 3 tầng được xây dựng trên đất tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội), là di sản của ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Thị L để lại (đất đã được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC787202, số vào sổ CH 00498 do UBND quận T cấp ngày 05/8/2010). Đây là tranh chấp về đòi tài sản và chia thừa kế, là quan hệ dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp quận, huyện theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại thời điểm người khởi kiện nộp đơn khởi kiện, bị đơn có địa chỉ tại số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án quận Thanh Xuân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. .

[2] Về nội dung:

Các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự thể hiện: Cụ Nguyễn Ngọc K1 (chết tháng 01/1984) và cụ Trần Thị N (chết ngày 20/04/2011) có mảnh đất diện tích 277m2 thuộc thửa đất số 118, tờ bản đồ số: F - 48a – 104 - (9) có địa chỉ tại: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội; được UBND thành phố H cấp ngày 3/11/2000 đứng tên: “Bà Trần Thị N (chồng là Nguyễn Ngọc K1 đã chết)”, hồ sơ gốc số: 5968.2000.QĐUB/28016.2000. Hai cụ sinh được 04 (bốn) người con bao gồm:

  • Nguyễn Ngọc K2
  • Nguyễn Ngọc T1
  • Nguyễn Hoàng O
  • Nguyễn Hồng Y

Các cụ không có người con riêng hoặc con nuôi nào khác. Bố mẹ của các cụ đều đã chết từ lâu.

Trên cơ sở nguồn gốc đất là của cụ K1 và cụ N (bút lục 02), khi cụ K1 chết, những người thừa kế của cụ K1 đã tiến hành kê khai di sản thừa kế tại văn phòng C1 (địa chỉ số B, Nguyễn Ngọc V, T, Cầu G, Hà Nội). Văn phòng C1 đã ra thông báo ngày 03/01/2010, thông báo về di sản thừa kế và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ K1. Thông báo được niêm yết tại UBND phường N theo quy định. Hết thời hạn niêm yết không có khiếu nại, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ K1 gồm: cụ Trần Thị N, ông Nguyễn Ngọc K2, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Hoàng O, bà Nguyễn Hồng Y đã tiến hành lập văn bản phân chia di sản thừa kế tại văn phòng C1 ngày 15/03/2010, được công chứng số 000510, quyển số: 05/VBTK với nội dung: Ông Nguyễn Ngọc K2, ông Nguyễn Ngọc T1, bà Nguyễn Hoàng O, bà Nguyễn Hồng Y thống nhất đồng ý tặng cho toàn bộ phần di sản mà họ được hưởng cho cụ Trần Thị N.

Theo đó, ngày 08/07/2010, cụ Trần Thị N đã lập hợp đồng tặng cho tài sản tại văn phòng C1, số công chứng 002023, quyển số: 20/HĐTA, với nội dung: cụ Trần Thị N tặng cho ông Nguyễn Ngọc T1 diện tích 124,4m2 tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội. Theo đó, ông Nguyễn Ngọc T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 787202 ngày 05/08/2010, số vào sổ cấp GCN: CH00498 đối với thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội, diện tích 124,4m2.

Căn cứ vào toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ, xác định được ý chí của cụ N về việc phân chia đất cho các con và cháu đúng như tại chúc thư mà cụ N để lại (mặc dù chúc thư là bản viết tay của cụ N không có chữ ký, không có ngày tháng).

Nội dung chúc thư phù hợp với lời khai của nguyên đơn và lời khai của những người làm chứng (bao gồm ông Nguyễn Ngọc K2, bà Nguyễn Hoàng O, bà Nguyễn Hồng Y – các con của cụ N) đều thống nhất khẳng định: Khoảng năm 2005, khi cụ Trần Thị N còn sống, cụ N đã tiến hành chia đất trên cho 4 người con và cháu nội Nguyễn Huy H (con ông Nguyễn Ngọc T1). Cụ thể ông Nguyễn Ngọc K2 được chia 70m2 đất ở, ông Nguyễn Ngọc T1 được chia 100m2 đất ở, bà Nguyễn Hoàng O được chia 40m2 đất ở, bà Nguyễn Hồng Y được chia 40m2 đất ở và ông Nguyễn Huy H được chia 27m2 đất ở. Cụ N chia cho ông H 27m2 là cắt từ 97m2 mà cụ N định chia cho ông K2, vì ông K2 không có con trai nên cụ N chia cho ông H 27m2 để ông H thờ tự - tức là Hoàng ăn thừa tự của ông K2 để thờ cúng tổ tiên. Tổng diện tích là 277m2 theo đúng diện tích đất được cấp sổ đỏ của cụ N. Do diện tích cho ông H là 27m2 không đủ để tách riêng sổ đỏ nên cụ N và các con đã thống nhất gộp diện tích đất cho ông H vào diện tích đất của ông T1 để cấp sổ đỏ. Khi đo đạc thực tế thì diện tích của bà O là 41m2, diện tích đất của bà Y là 41,6m2, diện tích đất của ông K2 là 70m2. Do đó, phần diện tích còn lại của bố con ông T1 (gồm ông T1 và ông H) chỉ là 124,4m2 (chứ không đủ 127m2). Vì vậy, cụ N mới lập hợp đồng tặng cho ông T1 124,4m2 và sau đó ông T1 được cấp sổ đỏ đối với diện tích đất này.

Năm 2010, ông K2, ông T1, bà O, bà Y đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất được chia như nêu trên và không có tranh chấp. Đến tháng 4/2011 cụ Trần Thị N chết. Sau khi cụ N chết thì các con cụ N tìm thấy chúc thư viết tay của cụ N (không ký tên, không ghi ngày tháng) có nội dung chia đất như thực tế cụ N đã chia nêu trên.

Sau này, ông K2, bà Y, bà O đã lập vi bằng để ghi nhận lại một sự kiện có thật là cụ N đã chia cho ông H 27m2. Lời khai của ông K2, bà Y, bà O tại toà cũng đều thống nhất khẳng định lại nội dung này.

Như vậy, căn cứ toàn diện lời khai của đương sự, những người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để kết luận: Hợp đồng tặng cho tài sản lập ngày 08/07/2010 tại văn phòng C1, số công chứng 002023, quyển số: 20/HĐTA, với nội dung: cụ Trần Thị N tặng cho ông Nguyễn Ngọc T1 diện tích 124,4m2 tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội là hợp đồng tặng cho có điều kiện (cụ thể: trong diện tích 124,4m2 có 27m2 đất là diện tích đã cho ông Nguyễn Huy H).

Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại 27m2 mà cụ N đã cho nguyên đơn trong tổng diện tích 124,4m2 đã được cấp sổ đỏ đứng tên ông Nguyễn Ngọc T1 (theo đo đạc thực tế tại thời điểm định giá tài sản, tổng diện tích đất là 131,9m2)

Về chia di sản thừa kế của ông T1, bà L:

Ông Nguyễn Ngọc T1 kết hôn với bà Nguyễn Thị L và sinh được hai người con là bà Nguyễn Xuân H2 và ông Nguyễn Huy H. Ông T1, bà L không có con riêng hoặc con nuôi nào khác. Bà L chết năm 2012. Ông T1 chết năm 2021.

Cuối năm 2001- đầu năm 2002, ông T1, bà L xây dựng căn nhà 3 tầng 150m2 sàn (không có giấy phép xây dựng) tại địa chỉ số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội. Ông T1 bị bệnh từ tháng 1/2020 đến ngày 25/8/2021 thì ông T1 chết. Bà Nguyễn Xuân H2 đi lấy chồng năm 2008, sau khi ly hôn thì bà chuyển về sinh sống tại căn nhà có địa chỉ số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội.

Như đã phân tích ở trên, di sản ông T1 để lại là 131,9m2 – 27m2 = 104,9m2 đất tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số 1, ngách A Q, N, T, Hà Nội). Cần chia đôi phần di sản này cho ông H bà H2 mỗi người một nửa, chia bằng hiện vật. Theo đó, mỗi người được chia diện tích đất là 52,45m2 x 90.000.000/m2=4.720.500.000 đồng.

Di sản của ông T1, bà L để lại là căn nhà 3 tầng, 1 tum được xây trên diện tích đất 131,9m2 tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số 1, ngách A Q, N, T, Hà Nội).

Quá trình tham gia tố tụng, các đương sự đều thừa nhận căn nhà này do ông T1, bà L xây dựng, có sự cải tạo sửa chữa của vợ chồng ông H, bà T cụ thể: năm 2020, vợ chồng Hoàng T2 có cải tạo 1 phần tầng tum, dỡ 1 phần mái tôn thường để lắp mái tôn chống nóng và quây các tường thạch cao thành một phòng thờ, đồng thời lát nền gạch men tại phòng thờ và phần ban công. Bị đơn đề nghị vợ chồng Hoàng T2 phải khôi phục lại hiện trạng như cũ (do vợ chồng Hoàng T2 cải tạo mà không xin phép và cải tạo khi tài sản chưa xác định là của ai). Xét thấy, yêu cầu của bà H2 là không có căn cứ để chấp nhận. Cần chia đôi phần giá trị nhà sau khi trừ đi phần giá trị cải tạo trả cho vợ chồng Hoàng T2. Đồng thời, ông Nguyễn Huy H là con trai, được giao việc thờ cúng tổ tiên và thực tế ông H là người thờ cúng tổ tiên từ trước tới nay nên cần chia toàn bộ ngôi nhà cho ông H. Ông H phải thanh toán phần giá trị nhà mà bà H2 được hưởng. Theo kết luận định giá, tổng giá trị nhà 3 tầng được xây năm 2002 có giá là 557.628.240 đồng. Giá trị phần tum cải tạo có giá là 8.116.320 đồng. Giá trị phần sân gạch xi măng bê tông là 11.637.780 đồng. Giá trị phần mái tôn ở sân là 6.608.220 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản trên đất là 557.628.240 + 11.637.780 + 6.608.220= 575.874.240 đồng. Sau khi trừ đi phần giá trị vợ chồng Hoàng T2 cải tạo (8.116.320), cần chia đôi cho Hoàng H5 mỗi người 1 nửa. Theo đó, chia phần nhà cho ông H thì ông H phải thanh toán phần giá trị nhà cho bà H5 là 283.878.960 đồng.

Bà H5 yêu cầu chia phần giá trị nhà cho bà H5 được hưởng 3/4, ông H được hưởng 1/4 do ông Hoàng cung C giấy khai sinh đề tên mẹ là Nguyễn Thị Bích L. Xét thấy, sau phiên toà ngày 19/05/2025, ông H đã cung cấp cho Toà án bản sao giấy khai sinh của ông H đề tên mẹ là Nguyễn Thị L. Đó chỉ là sai sót trong quá trình cấp giấy khai sinh. Yêu cầu của bà H5 là vô lý và không có căn cứ để chấp nhận.

Về việc tính công sức đóng góp của từng đương sự trong việc chăm sóc bố mẹ và giữ gìn di sản: Xét thấy tại phiên toà, bị đơn thừa nhận bị đơn không chăm sóc được bà L khi bà L già yếu, ốm đau vì lúc đó bà H5 trong giai đoạn mang bầu và sinh con. Đối với việc chăm sóc ông T1 khi ốm đau và thờ cúng tổ tiên, thực tế đều do vợ chồng Hoàng T2 thực hiện. Do đó, cần tính công sức đóng góp cho vợ chồng Hoàng T2 trước khi chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, tại phiên toà, ông H bà T2 cho rằng việc chăm sóc bố mẹ là nghĩa vụ của người làm con nên ông bà không đề nghị Toà án tính phần công sức đó. Do vậy Toà không xét.

Đối với yêu cầu của bà H5 đề nghị ông H phải trả cho bà H5 tiền thuê nhà tính đến thời điểm xét xử là 120.000.000 đồng. Xét thấy, từ trước và trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, gia đình ông H và gia đình bà H5 đều cùng ở tại ngôi nhà mà bố mẹ để lại. Sau đó bà H5 tự chuyển ra chỗ khác ở, chứ không phải do ông H ép buộc. Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của bà H5.

Về án phí:

Tổng giá trị nhà đất mà ông H được hưởng là 4.720.500.000 đồng + 283.878.960 + 8.116.320 = 5.012.495.280 đồng. Theo đó, ông H phải chịu án phí là 113.012.495 đồng

Tổng giá trị nhà đất mà bà H5 được hưởng là 4.720.500.000 đồng + 283.878.960 = 5.004.378.960 đồng. Theo đó, bà H5 phải chịu án phí là: 113.004.378 đồng. Ngoài ra, bà H5 còn phải chịu 6.000.000 đồng tiền án phí đối với phần yêu cầu buộc ông H thanh toán tiền thuê nhà không được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26; Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 462; Điều 649; Điều 650; Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015.

Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi tài sản và chia thừa kế đối với nhà đất tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 787202 ngày 05/08/2010, số vào sổ cấp GCN: CH00498 do UBND quận T cấp, đứng tên ông Nguyễn Ngọc T1.
  2. Trả lại cho ông Nguyễn Huy H diện tích 27m2 trong tổng diện tích 124,4m2 tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 787202 ngày 05/08/2010, số vào sổ cấp GCN: CH00498 do UBND quận T cấp, đứng tên ông Nguyễn Ngọc T1 (theo đo đạc thực tế là 131,9m2).
  3. Ông H được chia thừa kế 52,45m2 diện tích đất, bà H5 được chia thừa kế 52,45m2 diện tích đất tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 787202 ngày 05/08/2010, số vào sổ cấp GCN: CH00498 do UBND quận T cấp, đứng tên ông Nguyễn Ngọc T1 (theo đo đạc thực tế là 131,9m2).
  4. Tổng số diện tích đất ông H được hưởng là 79,45m2 (trong tổng số 131,9m2 đất tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội).
  5. Tổng diện tích đất bà H5 được hưởng là 52,45m2 (trong tổng số 131,9m2 đất tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội).
  6. Ông H được chia thừa kế giá trị nhà và giá trị phần cải tạo nhà là: 291.995.280 đồng.
  7. Bà H5 được chia thừa kế giá trị nhà là: 283.878.960 đồng.
  8. Chia cho ông H phần đất có ngôi nhà 3 tầng 01 tum tại thửa đất số 118 (1p), tờ bản đồ số F48a-104-9, địa chỉ: Tổ C K, phường N, quận T, Hà Nội (nay là số A, ngách A Q, phường N, quận T, Hà Nội).
  9. Ông H phải thanh toán phần giá trị nhà cho bà H5 là 283.878.960 (hai trăm tám mươi ba triệu, tám trăm bảy mươi tám nghìn, chín trăm sáu mươi) đồng.
  10. Việc chia nhà đất cho ông H bà H5 có sơ đồ kèm theo.

    Các đương sự có nghĩa vụ chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình quản lý, sử dụng nhà và đất được chia.

  11. Về án phí:
  12. ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 113.012.495 đồng, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp là 36.000.000 đồng (theo biên lai số AA/2020/0008418 ngày 01/12/2022 của chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân). Ông H còn phải nộp số tiền án phí là: 77.012.495 (bảy mươi bảy triệu, không trăm mười hai nghìn, bốn trăm chín mươi lăm) đồng. Bà H5 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 119.004.378 (một trăm mười chín triệu, không trăm linh bốn nghìn, ba trăm bảy mươi tám) đồng.

  13. Về quyền kháng cáo:
  14. Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà nội;
  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - THADS quận Thanh Xuân;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/DS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI về tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế

  • Số bản án: 83/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN TP.HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản và chia thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger