|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2025/DS-ST. Ngày: 10/6/2025. V/v: "Tranh châp ly hôn và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Đoạt.
2/ Bà Phạm Hồng Gái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Thành Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 519/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Danh Thị Mỹ N, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ E, ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Châu Văn C, sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ E, ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết nguyên đơn bà Danh Thị Mỹ N trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2005 bà Danh Thị Mỹ N và ông Châu Văn C đi đến hôn nhân là do mai mối. Bà N1 và ông C có đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/5/2006. Quá trình chung sống với nhau, thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng vào khoảng 03 năm về trước thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, chủ yếu là do bà và ông C bất đồng quan điểm sống, ông C thường xuyên bạo lực gia đình, nên bà và ông C thường xuyên cự cãi nhau, đôi khi còn xô xát lẫn nhau. Bà N1 thấy rằng tình cảm vợ chồng giữa bà và ông C không còn, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và không thể hàn được nữa nên bà N1 yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Châu Văn C.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau giữa bà và ông C có 02 người con chung tên Châu Ngọc N2, sinh ngày 29/12/2005 và Châu Thị Kim C1, sinh năm 07/9/2009. Ly hôn bà N1 đồng ý giao cháu Châu Thị Kim C1 cho ông Châu Văn C tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên và bà không cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu Châu Ngọc N2 đã trưởng thành và không có nhược điểm về thế chất, tinh thần nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản chung: Bà và ông C tự thỏa thuận nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về quan hệ nợ chung: Bà N1 xác định bà và ông C không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn ông Châu Văn C: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Châu Văn C đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Châu Văn C đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
- Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thì nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự; phía bị đơn đã không chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng ông Châu Văn C vẫn vắng mặt.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Danh Thị Mỹ N.
Về hôn nhân: Chấp nhận cho bà Danh Thị Mỹ N được ly hôn với ông Châu Văn C;
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Châu Thị Kim C1 cho ông Châu Văn C được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên; Riêng Châu Ngọc N2 đã trưởng thành và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX miễn xét.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét vì đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bà Danh Thị Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định vụ án như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện bà Danh Thị Mỹ N yêu cầu được ly hôn với ông Châu Văn C. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; bị đơn ông Châu Văn C có nơi cư trú tại ấp C, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Châu Văn C được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về hôn nhân: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án HĐXX có cơ sở xác định: Bà Danh Thị Mỹ N và ông Châu Văn C xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2005 trên cơ sở tự nguyện; bà N và ông C có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/5/2006. Như vậy, hôn nhân giữa bà Danh Thị Mỹ N và ông Châu Văn C là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về tình trạng hôn nhân HĐXX xét thấy: Trong quá trình chung sống với nhau, bà N và ông C có phát sinh mâu thuẫn mà theo như bà N trình bày thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu là do ông C thường xuyên bạo lực gia đình, dẫn đến việc bà N và ông C thường xuyên cự cãi nhau, đôi khi còn xô xát lẫn nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, mặc dù được gia đình hàn gắn nhưng vẫn không hàn được; vì vậy bà N và ông C đã sống ly thân với nhau cho đến nay đã hơn 03 năm. Trong thời gian sống ly thân bà N và ông C không còn quan tâm hay liên lạc gì đến nhau và cũng không thực hiện nghĩa vụ chung vợ chồng. Bà N1 xác định bà không còn tình cảm gì với ông C nữa nên cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy mà bà N1 cương quyết ly hôn với ông Châu Văn C. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông C các thông báo mở phiên họp, tiếp cận công chứng cứ và hòa giải nhưng ông C vẫn mặt không có lý do. Điều này cho thấy ông C cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng giữa ông với bà N1. Từ đó thấy rằng cuộc sống vợ chồng giữa bà N1 và ông C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Do đó; căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 HĐXX thống nhất chấp nhận cho bà N1 được ly hôn với ông C.
[3.2] Về con chung: Bà Danh Thị Mỹ N xác định quá trình chung sống với nhau bà và ông C có 02 người con chung tên Châu Ngọc N2, sinh ngày 29/12/2005 và Châu Thị Kim C1, sinh năm 07/9/2009.
Tại phiên tòa bà N tự nguyện giao cháu Châu Thị Kim C1 cho ông C được tiếp tục nuôi cho đến tuổi thành niên. Bởi vì từ khi bà N và ông C sống ly thân với nhau thì cả 02 người con chung đều được ông C nuôi dưỡng; các con chung đang được ông C chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển bình thường. Đồng thời theo nguyện vọng của cháu Châu Thị Kim C1 là muốn tiếp tục được sống cùng với cha. Vì vậy để không làm ảnh hưởng đến phát triển về thể chất cũng như tâm sinh lý ở trẻ và theo nguyện vọng cháu Kim C1 nên tiếp tục giao cháu Kim C1 cho ông C được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Do đó, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của bà N, thống nhất tiếp tục giao cháu Châu Thị Kim C1, sinh năm 07/9/2009 cho ông Châu Văn C được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Đối với Châu Ngọc N2 đã trưởng thành và không có nhược điểm về thế chất, tinh thần nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX miễn xét.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó HĐXX không đặt ra xem xét.
[3.3] Về tài sản chung: Đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không đặt ra xem xét.
[3.4] Về nợ chung: Bà N1 xác nhận bà N1 và ông C không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX miễn xét, trường hợp có phát sinh tranh chấp thì được quyền khởi kiện ở vụ kiện dân sự khác.
[4] Ý kiến phát biểu của Vị đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất là có cơ sở nên được HĐXX xem xét chấp nhận.
[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Danh Thị Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; 227, 228 Điều 273 và Điều 280 BLTTDS năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Danh Thị Mỹ N được ly hôn với ông Châu Văn C.
2/ Về quan hệ con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà N, giao cháu Châu Thị Kim C1, sinh năm 07/9/2009 cho ông Châu Văn C được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Đối với Châu Ngọc N2 đã trưởng thành và không có nhược điểm về thế chất, tinh thần nên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX miễn xét.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không xét.
Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian ông C nuôi con; bà N được quyền đến thăm nom con, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
3/ Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xét.
4/ Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc bà Danh Thị Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0009646 ngày 13/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, bà N không phải nộp thêm, ông C không phải nộp tiền án phí sơ thẩm.
5/ Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/6/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Hồng Điệp |
Bản án số 83/2025/DS-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 83/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
