Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 83/2025/DS-PT

Ngày: 07-03-2025

V/v "Tranh chấp ranh giới

giữa các bất động sản liền kề”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Thẩm phán:

  • Ông Nguyễn Văn Hải
  • Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 07 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 529/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 155/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 57/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Trương Minh C, sinh năm 1955; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  2. Bà Trương Thị Cẩm V, sinh năm 1963; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  3. Bà Trương Thị S, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  4. Ông Trương Văn T, sinh năm 1966; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
  5. Ông Trương Văn T1, sinh năm 1969; Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của ông C, bà T, bà S, bà V: Ông Trương Văn T1, sinh năm 1969; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ (Giấy ủy quyền ngày 14/05/2020). (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T1: Luật sư Võ Ngọc K, Công ty L – thuộc Đoàn Luật sư thành phố C; địa chỉ: số H đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Bị đơn:

  1. Ông Châu Văn Q, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  2. Ông Hồ Văn P, sinh năm 1973; Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lâm Thúy K1, sinh năm 1961; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

- Người kháng cáo: Các nguyên đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày và yêu cầu như sau:

Cha ông là Trương Hữu Ú (đã chết) được cấp giấy chứng nhận QSD đất thửa số 309, tờ bản đồ số 07, diện tích 1.910 m² do UBND huyện Ô cũ, tỉnh Cần Thơ cấp ngày 08/4/1991. Đến ngày 25/8/2010 ông Trương Hữu Ú được cấp đổi lại giấy chứng nhận QSD sổ CH00264.

Thửa đất 309 một bên tiếp giáp với thửa đất 307, 308 của ông Châu Văn Q sử dụng đã lấn qua phần đất của ông chiều ngang 2 mét, dài khoảng 110 mét. Năm 2012 ông Q đã làm thủ tục để cấp lại giấy chứng nhận QSD đất tại thửa 307 có diện tích 2.614 m², thừa số 308 có diện tích 460 m². Khi làm thủ tục đổi lại giấy chứng nhận QSD đất thì ông Q đã giả chữ ký của mẹ ông là bà Nguyễn Thị N để ký giáp ranh.

Thửa 309 còn tiếp giáp thửa 310 của ông Hồ Văn P, ở giữa 2 phần đất là con mương thuộc giấy chứng nhận QSD đất của gia đình ông, quá trình sử dụng ông P đã lấn qua chiếm hết con mương.

Nay nguyên đơn khởi kiện ông Châu Văn Q phải trả phần đất lấn chiếm tại vị trí A có diện tích 171,3 m², vị trí B có diện tích 23,8 m²; yêu cầu ông Hồ Văn P phải trả lại phần đất lấn chiếm tại vị trí C có diện tích 139,3 m² theo Bản trích đo địa chính số 159/VPĐK ĐĐ ngày 06/6/2024 của Văn phòng Đ.

- Bị đơn ông Châu Văn Q trình bày: Nguồn gốc đất ông đang sử dụng là của ông bà, cha mẹ để lại. Ông đã được UBND huyện T 02 giấy chứng nhận QSD đất gồm thửa số 307, diện tích 2.614 m²; thửa số 308, diện tích 460 m², giấy chứng nhận QSD đất cấp ngày 12/3/2012.

Giáp ranh với phần đất của ông là đất của hộ ông Trương Hữu Ú, nay là ông Trương Văn T1 đang sử dụng. Giữa hai phần đất trước đây khi cha của ông còn sống có mướn người đào con mương để dẫn nước ra phía sau để làm vườn, ruộng, mỗi bên sử dụng 1/2 con mương.

Nay ông T1 cho rằng con mương là thuộc phần đất của ông là không hợp lý, ông không đồng ý với yêu cầu của các nguyên đơn. Phần đất nguyên đơn tranh chấp với ông, từ trước đến nay và hiện tại ông vẫn sử dụng.

- Bị đơn ông Hồ Văn P trình bày: Phần đất của ông đang sử dụng được cấp giấy chứng nhận thửa số 310, tờ bản đồ số 07, diện tích 1.537 m² được UBND huyện C (cũ), TP Cần Thơ cấp giấy chứng nhận ngày 19/4/2006. Giáp ranh với đất của ông là đất của ông Trương Hữu Ú là cha của các nguyên đơn. Trước đây, ông Trương Minh C chỉ ranh cho ông cấm trụ ranh ở đầu đất. Giữa hai phần đất đã có ranh cụ thể, có con mương mỗi bên sử dụng ½ con mương nhưng đã lấp, nay các nguyên đơn cho rằng ông lấn ranh đất là không đúng, ông không đồng ý với yêu cầu của các nguyên đơn. Phần đất nguyên đơn tranh chấp với ông, từ trước đến nay và hiện tại ông vẫn sử dụng.

Ông Hồ Văn P vẫn giữ ý kiến đã trình bày, yêu cầu phản tố được công nhận và ổn định phần đất tranh chấp mà hiện tại ông đang sử dụng có diện tích 139,3 m².

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 155/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai đã quyết định:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Châu Văn Q, ông Hồ Văn P trả lại diện tích đất tại vị trí A, B, C của Bản trích đo địa chính số 159/VPĐKĐĐ ngày 06/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hồ Văn P.
  3. Buộc nguyên đơn phải giao cho ông Hồ Văn P được sử dụng phần đất tại vị trí C, diện tích 139,3 m², (loại đất CLN).
  4. Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Bản trích đo địa chính số 159/VPĐKĐĐ ngày 06/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ. (Kèm theo Bản trích đo địa chính).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/9/2024 nguyên đơn nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên Tòa phúc thẩm:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng nguyên đơn có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00887 ngày 12/3/2012 cấp cho hộ ông Châu Văn Q nhưng cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân huyện T tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đất cấp cho hộ ông Q nhưng chưa làm rõ trong hộ ông Q có bao nhiêu người; mẹ của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N không biết chữ, nhưng ký vào bản mô tả ranh giới mốc giới thửa đất ngày 05/5/2011, cũng chưa được cấp sơ thẩm làm rõ. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm.

- Nguyên đơn thống nhất ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn.

- Bị đơn ông Châu Văn Q không thống nhất kháng cáo của nguyên đơn.

- Bị đơn ông Hồ Văn P cho rằng việc tranh chấp đã kéo dài nhiều năm, để giải quyết dứt điểm vụ án và xác đinh ranh cho rõ ràng, ông thống nhất chia đôi diện tích tranh chấp và đề nghị tòa án xác định ranh đất hai bên cho rõ ràng, tránh tranh chấp về sau.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các nguyên đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung vụ án và kháng cáo: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất lấn chiếm, tuy nhiên theo kết quả đo đạc thì nguyên đơn đang sử dụng diện tích đất dư 479,5m² (chưa tính đất tranh chấp), cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tại phiên tòa, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn đối với ông Châu Văn Q; đối với kháng cáo với ông Hồ Văn P, ông P tự nguyện chia đôi diện tích đất tranh chấp, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của ông P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của nguyên đơn:

[2.1] Theo kết quả đo đạc thực tế được thể hiện tại Bản trích đo địa chính số 159 ngày 06/06//2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện thửa đất 309 của gia đình ông Trương Minh C tiếp giáp một bên với thửa đất 310 của ông Hồ Văn P, bên còn lại tiếp giáp với thừa 307+308 của ông Châu Văn Q. Nếu chưa tính diện tích đất tranh chấp tại các vị trí A (171,3m²), B (23,8m²) và C (139,3m²), thì ông Trương Minh C, ông Châu Văn Q và ông Hồ Văn P đang sử dụng diện tích thực tế là:

  • Nguyên đơn ông Trương Minh C đang sử dụng thửa đất 309, diện tích 2.389,5m², so với giấy chứng nhận (thửa 309, diện tích 1.910 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 25/8/2010, do ông Trương Hữu Ú là cha của các nguyên đơn đứng tên) dư 479,5m², nếu tính luôn diện tích tranh chấp tại vị trí A, B, C thì dư 813,9m².
  • Bị đơn ông Châu Văn Q đang sử dụng thửa đất 307+308, diện tích thực tế là 3.008,4 m², so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 3.074 m², thiếu 65,6m², nếu tính 195,1m² đất tranh chấp thì dư 129,5m².
  • Bị đơn ông Hồ Văn P đang sử dụng thửa đất 310, diện tích thực tế 1.991.4m², so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.537,5m², dư 453,9m² đất, nếu tính luôn phần đất tranh chấp 139,3m² thì dư 539,2m².

[2.2] Xét kháng cáo của nguyên đơn với ông Q, nhận thấy:

Phần đất tranh chấp vị trí A, B diện tích 195,1m² đất, do ông Q đang sử dụng từ trước đến nay. Nguyên đơn cho rằng, phần đất này thuộc thửa 309 của gia đình nguyên đơn. Tuy nhiên, thửa đất 309 của gia đình nguyên đơn từ khi sử dụng cho đến nay cũng chỉ kê khai diện tích 1.910m² (giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông Trương Hữu Ú được cấp vào năm 1991, đến năm 2010 đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), thực tế không tính diện tích đất tranh chấp thì nguyên đơn cũng đang sử dụng dư 479,5m². Nguyên đơn không có căn cứ xác lập quyền sử dụng đất, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cho rằng không đưa Ủy ban nhân dân huyện T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Xét thấy, không có căn cứ xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00887 ngày 12/3/2012 cấp cho hộ ông Châu văn Q là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên không cần thiết đưa Ủy ban nhân dân huyện T tham gia tố tụng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn còn cho rằng chưa làm rõ đất cấp cho hộ ông Q gồm bao nhiêu người, để đưa các thành viên trong hộ gia đình tham gi tố tụng với tư cách đương sự. Xét thấy, ông Q, bà K1 là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp đã tham gia tố tụng là đầy đủ, các thành viên khác trong hộ gia đình (nếu có) không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp nên không cần thiết đưa vào vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2.3] Xét kháng cáo của nguyên đơn đối với ông Hồ Văn P, nhậy thấy:

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2024 thì trên phần đất tranh chấp không có tài sản, không có cây trồng, không có công trình nhà cửa; ranh giới giữa hai thửa đất của nguyên đơn với bị đơn đều do các đương sự tự chỉ ranh, không có trụ ranh cố định, các đương sự không đưa ra được chứng cứ gì chứng minh ranh đất như mình chỉ, cũng không có sơ sở gì để xác định ranh theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp. Thực tế, nếu không tính phần đất tranh chấp thì diện tích thực tế nguyên đơn, bị đơn đang sử dụng đã nhiều hơn so với diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có căn cứ để xác định ranh đất theo trình bày của các đương sự, các đương sự cũng không thỏa thuận được ranh giới nên cần phải xác định ranh rõ ràng cho các đương sự, tránh tranh chấp sau này, đồng thời ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Tại phiên tòa, bị đơn ông P đồng ý chia đôi diện tích tranh chấp và đề nghị Tòa án xác định ranh rõ ràng, là phù hợp, điều này cũng có lợi cho nguyên đơn, nghĩ nên cần xác định ranh đất giữa thửa 309 và 310 theo như ý kiến của ông P.

Như vậy, chỉ có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, không có căn cứ hủy án theo như đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên nguyên đơn không phải chịu án phí phúc thẩm..

[4] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 31; Điều 146; Điều 220; Điều 235; Điều 236 Luật đất đai 2024;

Chấp nhận một phần kháng cáo của các nguyên đơn ông Trương Minh C, bà Trương Thị Cẩm V, bà Trương Thị S, ông Trương văn T, ông Trương Văn T1;

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 155/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Châu Văn Q trả lại diện tích đất tại vị trí A, B của Bản trích đo địa chính số 159/VPĐKĐĐ ngày 06/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Hồ Văn P.
  3. Xác định ranh giới giữa thửa đất 310 với thửa đất 309 đất là đường thẳng nằm trên diện tích 139,3m² (vị trí C), đường ranh được tính từ điểm giữa (điểm chia đoạn thẳng làm 02 phần bằng nhau) cạnh giáp Rạch T2 (cạnh 1,45m) đến điểm giữa cạnh phía sau đối diện (cạnh 1,18m). Đường ranh chia diện tích tranh chấp thành 02 phần; phần diện tích phía thửa đất 309, các nguyên đơn được quyền sử dụng, bị đơn có trách nhiệm giao trả lại quyền sử dụng phần đất này cho nguyên đơn; phần diện tích phía thửa đất 310, bị đơn ông Hồ Văn P được quyền sử dụng, các nguyên đơn không được quyền cản trở việc bị đơn sử dụng phần diện tích đất này.

Căn cứ Bản trích đo địa chính số 159/VPĐKĐĐ ngày 06/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ để xác định ranh đất giữa các nguyên đơn với bị đơn.

Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan có thẩm quyền để điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Về chi phí đo đạc, định giá: Nguyên đơn phải chịu 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) và đã thực hiện xong.

4. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm:

Các nguyên đơn bà Trương Thị S, bà Trương Thị T3, ông Trương Văn T1 phải chịu án phí 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007458 ngày 19/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Bà Trương Thị S, bà Trương Thị T3, ông Trương Văn T1 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007459 ngày 19/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Ông Hồ Văn P phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004303 ngày 30/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai.

- Về án phí phúc thẩm: Ông Trương Văn T1, bà Trương Thị T3, bà Trương Thị S được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004376 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Lai.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự,
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - TAND H. Thới Lai;
  • - Chi Cục THADS H. Thới Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề

  • Số bản án: 83/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger