|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN Bản án số: 82/2024/HS-ST Ngày: 21 - 8 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng;
Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Lâm;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nguyên;
Bà Đinh Thị Hương;
Ông Đỗ Văn Túy;
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
Ông Trần Văn Hướng và bà Trần Thị Là - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Thị L, sinh năm 1977, tại huyện K, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nữ; nơi thường trú: Thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; nơi ở: Trung tâm thương mại D1, huyện K, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Văn D (đã chết); con bà: Lê Thị L1; chồng: Lưu Văn C; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H từ ngày 29/9/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hữu Tiến A - Văn phòng L4, Đoàn Luật sư tỉnh H, có mặt.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị X sinh năm 1964; địa chỉ: Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Văn C, sinh năm 1972; địa chỉ: Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
- Chị Cao Thị Minh H, sinh năm 1985; địa chỉ: Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Anh Lê Hữu H1, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Anh Trần Văn L2, sinh năm 1977; địa chỉ: thôn T, xã N, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Anh Đào Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: I N, phường A, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Phan Văn Ư, sinh năm 1981; địa chỉ: Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Anh Đỗ Văn L3, sinh năm 1992; địa chỉ: thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Anh Lê Trung H2, sinh năm 1995; địa chỉ: đường L, phường H, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Anh Cao Huy H3, sinh năm 1991; địa chỉ: Trung tâm Thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị L với bà Nguyễn Thị X đều ở cùng khu Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên có quan hệ quen biết nhau. Khoảng năm 2020, gia đình Lê rất khó khăn về kinh tế, L vay mượn tiền của nhiều người đều đến hạn trả, bị đòi nợ nhiều lần nhưng không có tiền để trả, không thể vay được tiền của ai khác. Cùng thời điểm này bà Nguyễn Thị X nhờ L mua bán hộ đất, L đã bán giúp bà X 01 suất đất ở thị trấn K, huyện K với giá hơn 4,1 tỷ đồng và mua giúp bà X 01 suất đất trong khu Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K với giá 3.500.000.000 đồng, số tiền chênh lệch từ việc mua, bán hai suất đất đó khoảng trên 600.000.000 đồng. L đã hỏi vay số tiền này để lấy vốn làm ăn và được bà X đồng ý. Đến khoảng giữa năm 2022, sau nhiều lần vay, L đã nhận được của bà X là 2.310.000.000 đồng và bà X không cho vay nữa.
Trước đó, vào khoảng năm 2017, thông qua mạng xã hội Facebook, L đã thuê 1 tài khoản mạng (đến nay không nhớ tên) làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 154, tờ bản đồ số 20, diện tích 228,9m² thuộc thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên mang tên vợ chồng L. Ngày 20/7/2022, Lê mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đến nhà bà X với mục đích bán cho bà X thửa đất trên để trừ vào khoản tiền đã vay, hai bên thỏa thuận viết giấy mua bán với nội dung: L và chồng là C bán mảnh đất cho bà X với giá 4,5 tỷ, bà X đồng ý, thỏa thuận đưa tiếp cho Lê 500.000.000 đồng, cộng với 2.310.000.000 đồng L đã vay trước đó, bằng 2.810.000.000 đồng. Thời hạn 01 tháng sau ngày viết giấy mua bán, hai bên làm thủ tục hợp đồng công chứng mua bán đất. Viết giấy bán đất xong, L gọi điện cho chồng là Lưu Văn C đến nhà bà X cùng ký xác nhận vào giấy bán đất, đồng thời đưa cho bà X quản lý 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Bà X nhờ anh Phan Văn Ư, sinh năm 1981 ở Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên (là con rể của bà X) chuyển cho L số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) từ tài khoản số 2408205030255 mở tại Ngân hàng A1 mang tên PHAN VAN UNG đến tài khoản số 46610000565300 mở tại Ngân hàng B mang tên PHAM THI LE. Do L có ý thức chiếm đoạt tài sản của bà X nên L đồng ý (ý định của Lê là bà X chuyển bao nhiêu Lê chiếm đoạt bấy nhiêu) và không cần viết lại giấy thỏa thuận như ban đầu, mà chỉ thực nhận số tiền cọc là 2.610.000.000 đồng, trong đó 2.310.000.000 đồng là nhận từ trước đó. Sau khi nhận chuyển khoản 300.000.000 đồng, L đã trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Đến hẹn 01 tháng kể từ ngày 20/7/2022, là thời điểm Lê phải thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Lúc này, L không có tiền trả bà X, cũng không thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà X vì GCNQSDĐ là giả, đất không phải của L. Bà X yêu cầu đưa đi xem đất và hoàn thiện thủ tục chuyển nhượng đất nhưng Lê lấy lý do bận, nhằm trốn tránh bà X, bà X nghi ngờ bị L lừa dối và GCNQSDĐ là giả, đã trao đổi với L nhưng L không trả tiền và còn thách thức. Do vậy bà X đã làm đơn tố cáo gửi Công an đồng thời gửi kèm các tài liệu như: Giấy tờ mua bán viết tay; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trang bổ sung giấy chứng nhận.
Tại Kết luận giám định số 2759/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của V - Bộ C1 kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD016099 là Giấy tờ giả (bao gồm mẫu in, hình dấu, chữ ký).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định: Khoảng năm 2009, vợ chồng Lê mua được thửa đất số 154, tờ bản đồ số 20, diện tích 228,9m² thuộc thôn Đ, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Năm 2019, vợ chồng L đã bán thửa đất trên cho ông Bùi Khắc T1, sinh năm 1976 và vợ là bà Bùi Thị T2, sinh năm 1980, ở thôn C, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
Đối với Lưu Văn C, sinh năm 1972 (là chồng của bị cáo L) trình bày: Ngày 20/7/2022, anh C đến nhà bà X ký vào giấy bán đất. Tuy nhiên, khi ký anh không đọc nội dung, không biết giấy ghi bán thửa đất nào. Anh C không bàn bạc, trao đổi, thống nhất gì với Lê về việc bán đất cũng như vay tiền nhà bà X. Do đó, chưa đủ căn cứ xác định Lưu Văn C đồng phạm với Phạm Thị Lê .
Đối với việc Lê mua GCNQSDĐ giả: Quá trình điều tra, Lê khai mua qua mạng xã hội Facebook, do lâu ngày nên L không nhớ tài khoản, không biết tên, địa chỉ cụ thể của người làm giả. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý ở vụ án khác.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Thị L đã trả cho bà Nguyễn Thị X 210.000.000 đồng, số tiền còn lại là 2.400.000.000 đồng bà X yêu cầu L tiếp tục trả số tiền này.
Quá trình điều tra bị cáo Phạm Thị L đã thành khẩn khai nhận về hành vi Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Nguyễn Thị X.
Cáo trạng số: 66/CT-VKS-P3 ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên đã truy tố bị cáo Phạm Thị L về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thị L từ 13 năm đến 13 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành từ 15 năm đến 16 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 29/9/2023.
Không áp dụng phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Không ý kiến về tội danh và điều luật truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại 210.000.000 đồng; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương, gia đình thờ cúng liệt sỹ. Từ các căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng mức án từ 08 đến 10 năm tù.
- Bị cáo Phạm Thị Lê thành k khai nhận hành vi phạm tội, nhất trí nội dung bào chữa của luật sư, bị cáo cho rằng không có ý thức chiếm đoạt tài sản của bà X từ trước thời điểm ngày 20/7/2022 như nội dung cáo trạng đã truy tố. Đề nghị được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình và hòa nhập cộng đồng. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo nhất trí trả lại cho bị hại số tiền còn lại.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lưu Văn C trình bày: Anh Chính xác định bản thân không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Anh và gia đình không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét số tiền bị cáo vay và áp dụng hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát đối đáp: Có căn cứ xác định bị cáo phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với số tiền 2.610.000.000 đồng kể từ thời điểm bị cáo giao Giấy chứng nhận QSDĐ giả, nên không đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Kết luận giám định số 2759/KL-KTHS ngày 02/6/2023 của V - Bộ C1; lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/7/2022, tại khu Trung tâm thương mại D1, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Phạm Thị L đã sử dụng Giấy chứng nhận QSDĐ giả, thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có thật) để chiếm đoạt tổng số tiền 2.610.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị X.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung là “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” với tình tiết định khung là “Sử dụng tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng sự cả tin và sự quen biết với bị hại, dùng thủ đoạn gian dối là mua bán đất dựa trên GCNQSDĐ giả mà bị cáo có được, nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm vào trật tự quản lý hành chính của Nhà nước; làm xáo trộn hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức; làm mất trật tự trị an xã hội; gây bất bình trong nhân dân. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, dành cho bị cáo mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo có ý thức khắc phục hậu quả và đã trả một phần tiền cho bị hại; bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều Huân, Huy chương; gia đình bị cáo thờ cúng liệt sỹ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, cùng thời điểm bị cáo thực hiện 02 hành vi phạm tội với tội danh khác nhau, số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của bị hại là rất lớn. Mặc dù bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng hình phạt với từng tội danh tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi, sau đó sẽ tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung và phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách li bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự không có căn cứ nên không được chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với động cơ, mục đích vụ lợi, lẽ ra phải tuyên phạt hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có tài sản riêng và còn phải có nghĩa vụ bồi thường cho người bị hại số tiền rất lớn. Do vậy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại trước ngày 20/7/2022 là 2.310.000.000 đồng, bị cáo có nghĩa vụ trả lại toàn bộ.
- Đối với số tiền 300.000.000 đồng mà bị cáo nhận chuyển khoản từ bị hại ngày 20/7/2022, đây là tiền do bị cáo phạm tội mà có, quá trình điều tra đã làm rõ được phần lớn dòng tiền bị cáo dùng để chuyển khoản trả nợ người thứ 3 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) thông qua tài khoản ngân hàng, vì vậy cần phải buộc những người này hoàn lại để trả cho bị hại, cụ thể như sau: Anh Lê Hữu H1 đã nhận 200.000.000 đồng; anh Trần Văn L2 đã nhận 20.000.000 đồng; anh Đào Văn T đã nhận 4.000.000 đồng; chị Cao Thị Hải M đã nhận 2.000.000 đồng, tổng là 226.000.000 đồng. Số tiền còn lại là 74.000.000 đồng, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết, nên bị cáo phải bồi hoàn cho bị hại. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bị buộc hoàn lại tiền đã nhận, có quyền khởi kiện bị cáo để đòi lại số tiền nêu trên bằng vụ án dân sự khác.
Riêng số tiền 6.700.000 đồng bị cáo chuyển khoản cho anh Đỗ Văn L3 là để đổi sang tiền mặt và bị cáo đã nhận lại số tiền này; số tiền 1.000.000 đồng chuyển khoản cho nhân viên bán xăng dầu được coi là khoản tiền chi tiêu cá nhân vì vậy bị cáo phải có nghĩa vụ hoàn trả cho bị hại.
Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã trả bị hại số tiền 210.000.000 đồng, số tiền này sẽ được đối trừ nghĩa vụ của bị cáo đối với bị hại. Số tiền còn lại bị cáo phải trả là 2.310.000.000 đồng + 300.000.000 đồng – 226.000.000 đồng – 210.000.000 đồng = 2.174.000.000 đồng.
- Đối với: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, 01 trang bổ sung giấy chứng nhận, 01 Giấy bán đất là vật chứng trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Về các nội dung khác: Đối với việc bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khai tại phiên tòa và đề nghị xử lý bà X về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, nếu có căn cứ thì bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn tố giác tội phạm đến CQCSĐT huyện K để được xem xét giải quyết theo thẩm quyền.
[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có nghĩa vụ trả lại tài sản đã chiếm đoạt nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với toàn bộ số tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ trả lại theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Lê 1 (mười ba) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; 03 (ba) năm tù về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 16 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 29/9/2023.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự
- Buộc bị cáo Phạm Thị L phải trả lại bà Nguyễn Thị X số tiền 2.174.000.000 đồng (Hai tỷ một trăm bảy tư triệu đồng).
- Buộc những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải hoàn trả lại bà Nguyễn Thị X số tiền 226.000.000 đồng đã nhận từ bị cáo Phạm Thị L, cụ thể:
- + Anh Lê Hữu H1 phải trả lại số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng);
- + Anh Trần Văn L2 phải trả lại số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng);
- + Anh Đào Văn T phải trả lại số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng);
- + Chị Cao Thị Hải M phải trả lại số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành án khoản tiền phải trả trên thì còn phải chịu lãi suất tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo qui định của pháp luật.
5. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, người có mặt được tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt được tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 82/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 82/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 20/7/2022, tại khu Trung tâm thương mại Dân Tiến, xã Dân Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, Phạm Thị L đã sử dụng Giấy chứng nhận QSDĐ giả, thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có thật) để chiếm đoạt tổng số tiền 2.610.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị X.
