TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HSST
Ngày: 24-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Trường Tam .
Ông Đặng Văn Vững.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Thị Thu Uyên – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2024/TLST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng T, sinh ngày: 31/3/1998.
Tên gọi khác: D.
Nơi thường trú cũ: 290/65/61/9 Đ, Phường A, Quận D, Tp .; Nơi ở hiện tại: không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: tiếp viên quán ăn; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn X và bà Nguyễn Thị Kim H; Bản thân không có chồng, chung sống như vợ chồng với Lưu Hồng P, có 06 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án – tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến ngày 02/6/2024 được tại ngoại cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩ vụ liên quan đến vụ án:
1/ Võ Thanh T1, sinh năm: 1986 (vắng mặt).
Cư trú: 404/2/1 đường Q, Phường A, quận G, Tp ..
2/ Lý T2, sinh năm: 1956 (vắng mặt).
Cư trú: 24/6 Ấp A, xã B, huyện B, Tp ..
Người chứng kiến:
1/ Lê Thị L, sinh năm: 1986 (vắng mặt).
2/ Mai Trung T3, sinh năm: 2001(vắng mặt).
Cùng cư trú: Khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/5/2024, Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà: Số E Tổ A, khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An do Nguyễn Thị Hồng T thuê lưu trú. Tại thời điểm kiểm tra, bên trong căn nhà có 03 đối tượng gồm: Nguyễn Thị Hồng T, Võ Thanh T1 và Lý T2 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Lúc kiểm tra, phát hiện T có hành vi ném từ cửa sổ căn phòng ngủ của T sang mái tole căn nhà liền kề của chị Lê Thị L 01 (một) túi nylon màu đen có quai xách và 01 (một) bộ dụng cụ dùng sử dụng ma túy đá gồm: 01 (một) lọ thủy tinh đựng nước nắp màu đen có gắn ống hút nhựa màu đỏ và 01 (một) nỏ thủy tinh. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong túi nylon màu đen có 02 (hai) gói nylon màu trắng có rãnh khép, viền màu xanh lá bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là chất ma tuý, 01 (một) cân tiểu ly nắp màu đen và 01 (một) ví đen dùng để đựng cân tiểu ly, 01 (một) hộp đen bên trong có 02 (hai) bật lửa gas 01 (một) màu trắng 01 (một) màu đen), 14 (mười bốn) gói nylon màu trắng viền xanh dương và 20 (hai mươi) gói nylon viền xanh lá cây, nên Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ chất nghi là ma túy gửi giám định và mời các đối tượng về trụ sở làm việc.
Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy loại Methamphetamine trong cơ thể ngày 23/5/2024 của Nguyễn Thị Hồng T, Võ Thanh T1, Lý T2 xác định: Dương tính với chất ma túy trong cơ thể.
Tại Bản kết luận giám định số 366/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nylon có rãnh khép, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,8846 gam, loại Methamphetamine.
H1 lại đối tượng giám định: Mẫu còn lại sau giám định có khối lượng: 0,7868 gam và vỏ bao đựng mẫu được đóng gói niêm phong.
Tại Bản kết luận giám định số 398/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận:
- Nỏ thủy tinh màu trắng được đóng gói niêm phong gửi đi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
- Lọ thủy tinh màu trắng có nắp nhựa màu đen (có gắn ống hút nhựa màu đỏ) được đóng gói niêm phong gửi đi giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị Hồng T khai nhận: Vào sáng ngày 21/5/2024, đối tượng tên T4 (không rõ họ tên, địa chỉ) quê tỉnh An Giang, tạm trú xã Q, huyện B, Tp . là bạn quen biết với T có đến căn nhà tại địa chỉ: Số E, Tổ A, khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An do T thuê lưu trú chơi và cho T 02 (hai) gói ma túy đá, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) cân tiểu ly, 34 (ba mươi bốn) gói nylon có rãnh khép, viền xanh dương, xanh lá để T sử dụng, tất cả được để trong túi nylon màu đen có quai xách. Sau đó, T đem cất ở phòng ngủ trên tầng 1 căn nhà. Khoảng 30 phút sau, T lấy một ít ma túy mà T4 cho, bỏ vào nỏ thủy tinh (bộ dụng cụ sử dụng do T4 cho), châm lửa sử dụng 01 (một) lần hút (02) hai hơi thì hết, số ma túy còn lại T vẫn để trong túi nylon màu đen cất ở phòng ngủ. Đến khoảng 16 giờ ngày 23/5/2024, Võ Thanh T1 đến nhà chơi với T và Lưu Hồng P (chung sống như vợ chồng với T) ở tầng trệt. Khoảng 15 phút sau, T lên phòng ngủ tầng 1 lấy túi nylon màu đen ra hành lang tầng 1 bên hông phòng ngủ, rồi lấy gói ma túy T4 cho, bỏ một ít vào nỏ thủy tinh gắn trên lọ thủy tinh và châm lửa sử dụng 01 (một) lần hút 02 (hai) hơi. Lúc này, T rủ T1 lên hành lang tầng 1 sử dụng ma túy cùng với T, rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong nỏ có sẵn ma túy đưa cho T1 và nói “anh đánh với em hơi đi” (rủ T1 sử dụng ma túy). T1 cầm lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy, tự châm lửa sử dụng 01 (một) lần hút 02 (hai) hơi, hút xong thì để bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại hành lang tầng 1. Ma túy là do T được T4 cho nên T cho T1 sử dụng không có lấy tiền, nhưng T có nói do không có tiền trả tiền thuê nhà nên T1 có cho T mượn số tiền 600.000 đồng, T lấy tiền xong đi vào phòng ngủ với con. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Lý T2 mang thức ăn đến cho mẹ con T, ngồi ở dưới tầng trệt nói chuyện với T1 và P, T không thấy T2 có sử dụng ma túy tại nhà của T. Khoảng 18 giờ cùng ngày, P chở cháu Lưu Gia B (con chung của P và T) ra ngoài chơi, còn T1, T2 ở lại nhà. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện T lấy túi nylon màu đen bên trong có 02 (hai) gói ma túy cùng các tang vật khác, ném qua cửa sổ phòng ngủ xuống mái tole nhà liền kề để phi tang, thì bị lực lượng Công an phát hiện và thu giữ. Mục đích T tàng trữ ma túy là để bản thân sử dụng.
Quá trình điều tra, Võ Thanh T1 khai nhận: Vào khoảng 16 giờ ngày 23/5/2024, T1 đến nhà của T chơi thì T có rủ T1 sử dụng ma túy, ma túy có sẵn trong
nỏ thủy tinh để tại lầu 1, T đưa cho Tân bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy, T1 lấy hút 02 (hai) hơi thì lên võng nằm nghĩ. T1 được T cho sử dụng ma túy mà không phải trả tiền, nhưng T1 có cho T mượn số tiền 600.000 đồng để trả tiền thuê nhà.
Quá trình điều tra, Lý T2 khai nhận: Vào ngày 23/5/2024, T2 có đem thức ăn đến nhà cho mẹ con T và có nói chuyện với P và T1. Khoảng 15 phút sau, P chở cháu Lưu Gia B đi ra ngoài, T2 thấy trên hành lang tầng 1 có bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong còn một ít ma túy đã ngã vàng nên T2 tự lấy sử dụng 01 (một) lần hút 02 (hai) hơi thì hết. Lúc này, T ở trong phòng cùng con nhỏ nên không thấy T2 sử dụng ma túy.
Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSCG ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Hồng T từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Hồng T từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung về hai tội từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Ma túy còn lại sau giám định, có khối lượng 0,7868 gam, loại Methamphetamine được đóng gói niêm phong; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 (một) lọ thủy tinh đựng nước nắp màu đen có gắn ống hút nhựa màu đỏ và 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) cân tiểu ly nắp màu đen và 01 (một) ví đen dùng để đựng cân tiểu ly; 01 (một) hộp đen; 02 (hai) bật lửa gas (01 màu trắng,
01 màu đen); 14 (mười bốn) gói nylon màu trắng viền xanh dương và 20 (hai mươi) gói nylon viền xanh lá cây; 01 (một) túi ny lon màu đen có quai xách.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào ngày 21/5/2024, bị cáo T được đối tượng tên T4 (không rõ nhân thân) là bạn ngoài xã hội ghé nhà trọ của bị cáo thuê tại địa chỉ Số E, Tổ A, khu phố K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An cho 02 (hai) gói ma túy đá, 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) cân tiểu ly, 34 (ba mươi bốn) gói nylon có rãnh khép, tất cả được để trong túi nylon màu đen có quai xách. Sau đó T cất giấu tại phòng ngủ của căn nhà do T thuê để dành sử dụng. Cùng ngày 21/5/2024, T lấy một ít ma túy sử dụng một mình tại nhà. Đến khoảng 16 giờ ngày 23/5/2024, Võ Thanh T1 đến nhà T chơi, T tiếp tục lấy một ít ma túy để sử dụng và rủ T1 cùng sử dụng ma túy với T mà không phải trả tiền. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra phát hiện, thu giữ 02 gói ma túy Thúy ném trên mái tole nhà liền kề của chị Lê Thị L.
[3] Theo Kết luận giám định số 366/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nylon có rãnh khép, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,8846 gam, loại Methamphetamine. Tại phiên tòa bị cáo T khai nhận khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là để dành sử dụng. Khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ trên 0,1 gam đến dưới 05 gam, loại Methamphetamine, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Với hành vi rủ rê, cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng và địa điểm sử dụng cho Võ Thanh T5 sử dụng trái phép chất ma túy một lần nên hành vi của bị cáo T đã
cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm, bị cáo thừa biết ma tuý là chất độc hại, gây nghiện làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần và thể chất con người nên Nhà nước thống nhất quản lý và nghiêm cấm các hành vi như: mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý . . ., nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ngoài ra việc sử dụng ma túy là một trong các tác nhân gây ra các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần thiết xử lý bị cáo bằng một hình phạt thoả đáng mới có thể giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo Điều 52 Bộ luật hình sự: không.
[7] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi con còn nhỏ, đây là tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8] Xét thấy hành vi của bị cáo phạm vào hai tội nghiệm trọng, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù cũng đủ răn đe và hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo khai nhận không có nơi cư trú rõ ràng (ở nhà thuê không khai báo tạm trú) và phạm hai tội nghiêm trọng, do đó cần thiết phải áp dụng điểm b khoản 2 Điều 119 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự để bắt, tạm giam bị cáo tại phiên tòa để đảm bảo việc thi hành án.
[9] Đối với Võ Thanh T1 và Lý T2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C chuyển đến Công an thị trấn C xử lý theo quy định (đã xử phạt hành chính đối với Lý T2 và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Võ Thanh T1). Đối với nam thanh niên theo bị cáo T khai tên T4 (không rõ nhân thân) tạm trú tại xã Q, huyện B, Tp . có cho bị cáo T 02 (hai) gói ma túy và 01 (một) bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Qua xác minh không xác định được nhân thân, nên Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.
[10] Về tang vật thu giữ: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, để xử lý tang vật thu giữ như sau: Đối với: Ma túy còn lại sau giám định, có khối lượng 0,7868 gam, loại Methamphetamine được đóng gói niêm phong, xét thấy là chất cấm, nên tịch thu tiêu hủy; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 (một) lọ thủy tinh đựng nước nắp màu đen có gắn ống hút nhựa màu đỏ và 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) cân tiểu ly nắp màu đen và 01 (một) ví đen dùng để đựng cân tiểu ly; 01 (một) hộp đen; 02 (hai) bật lửa gas (01 màu trắng, 01 màu đen); 14 (mười bốn) gói nylon màu trắng viền xanh dương và 20 (hai mươi) gói nylon viền xanh lá cây; 01 (một) túi ny lon màu đen có quai xách, xét thấy đây là các dụng cụ phục vụ cho việc sử dụng trái phép chất ma túy và không có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng không lớn, nên tịch thu tiêu hủy.
[11] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Hồng T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thị Hồng T 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng T phải chấp hành hình phạt chung về hai tội là 03 (ba) năm tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày 24/10/2024 và được khấu trừ thời giam tạm giữ từ ngày 23/5/2024 đến ngày 02/6/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Bắt, tạm giam bị cáo T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (24/10/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Ma túy còn lại sau giám định, có khối lượng 0,7868 gam, loại Methamphetamine được đóng gói niêm phong; 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy đá gồm: 01 (một) lọ thủy tinh đựng nước nắp màu đen có gắn ống hút nhựa màu đỏ và 01 (một) nỏ thủy tinh; 01 (một) cân tiểu ly nắp màu đen và 01 (một) ví đen dùng để đựng cân tiểu ly; 01 (một) hộp đen; 02 (hai) bật lửa gas (01 màu trắng, 01 màu đen); 14 (mười bốn) gói nylon màu trắng viền xanh dương và 20 (hai mươi) gói nylon viền xanh lá cây; 01 (một) túi ny lon màu đen có quai xách.
Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 57/QĐ-VKSCG, ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: -TAND tỉnh Long An; -VKSND huyện Cần Giuộc; -CA huyện Cần Giuộc; -THADS huyện Cần Giuộc; -Bị cáo; đương sự; -Lưu hồ sơ; -Lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
Bản án số 83/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 83/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị HỒng Th phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
