Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 83/2024/HSST

Ngày 03 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Thắng;
  2. Bà Lương Thị Thùy Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chi- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hoàng Vân- Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (Địa chỉ: Số D-L, thành phố Đ), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 91/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quang T, sinh ngày 22/9/1995, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Quang T1 (Chết) và bà Trương Thị H, sinh năm: 1958; Có vợ là Khương Thị N, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2020; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 03; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.

2. Hoàng Khánh C (Tên gọi khác: G), sinh ngày 25/6/1983, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký thường trú: Thôn K, xã T, huyện C, tỉnh Quảng Trị; Chỗ ở: Khu phố E, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Thợ nhiếp ảnh;

Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Minh D (Chết) và bà Trần Thị Thu H1 (Chết); Có vợ là Lê Hồng Y, sinh năm 1990, có 01 con sinh năm 2016; Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ 02; Tiền sự, tiền án: Không.

Nhân thân: Ngày 23 tháng 8 năm 2006, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, xử phạt Hoàng Khánh C: 42 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. C đã chấp hành xong Bản án.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Thanh P, sinh ngày 16/4/1990, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Trang điểm; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V (Chết) và bà Trần Thị D1, sinh năm 1967; Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 02; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Văn L (Tên gọi khác: D2), sinh ngày 03/8/1989, tại: Tỉnh Thừa Thiên - Huế; Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn P1, sinh năm 1957 và bà Mai Thị H2, sinh năm 1959; Vợ là Lê Thị T2 (Đã ly hôn), có 02 con, cháu lớn sinh năm 2012, cháu nhỏ sinh năm 2015; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 03; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; Bị cáo hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị H, sinh năm 1958 và chị Khương Thị N, sinh năm 1996; cùng địa chỉ: Tổ D, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng (Bà H có mặt, chị N vắng mặt-Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Kiều M, sinh năm: 2004; Nơi ĐKTT: Thôn C, xã I, Huyện E, tỉnh Đắc Lắc. Chỗ ở hiện nay: Khu phố I, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1] Nguyễn Quang T (T), Hoàng Khánh C (C) và Nguyễn Thanh P (P), có mối quan hệ trong công việc thường ngày nên quen biết nhau.

Khoảng 18 giờ ngày 18/12/2023, T, C và P tổ chức ăn uống tại Tiệm nhiếp ảnh của C, ở địa chỉ số A L, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Tiệm ảnh). Trong lúc nói chuyện, T khởi xướng “Góp tiền mua K và K1 (ma túy loại: Ketamine và dạng Kẹo) về cùng sử dụng và gọi thêm nhân viên phục vụ đến chung vui”, nghe vậy, C, P liền đồng ý. T liền dùng điện thoại của mình (số I) liên lạc vào số máy 0918.038.xxx của Nguyễn Văn L (L, là nhân viên quản lý Quán K2, địa chỉ số E N, thành phố Đ (Quán K) -bạn bè của T và C) để nhờ L tìm nhân viên phục vụ, thì L thông báo “nhân viên chỉ phục vụ bên ngoài mà không phục vụ tại Quán Karaoke". Nghe vậy, T nhờ L tìm giúp cho T một nhân viên nữ, thì L liền liên lạc qua điện thoại với Nguyễn Thị Kiều M (Trú tại: Khu phố I, Phường A, thành phố Đ), thông báo Mây đến để đi phục vụ, M đồng ý và đi đến Quán K2.

Tại Tiệm ảnh, T tiếp tục sử dụng điện thoại của mình liên lạc với nam thanh niên đã từng bán ma túy cho T nhưng không liên lạc được nên T đưa số điện thoại của L cho P để P liên lạc nhờ L giới thiệu người bán ma túy hoặc đặt mua giúp. P dùng máy điện thoại của mình liên lạc với L nhưng không dám trao đổi nên chuyển điện thoại cho C. C nhận điện thoại từ P rồi trao đổi với L, nhờ L giới thiệu hoặc đặt mua giúp cho C 01 chấm ma túy Ketamine và 01 viên ma túy dạng Kẹo nếu có thì đưa về rồi (Tức là: Đưa ma túy về Quán Karaoke) C đến lấy, L đồng ý rồi tắt máy điện thoại, nội dung C trao đổi với L cả nhóm đều biết.

L sử dụng điện thoại của mình liên lạc với người đàn ông tên “Trắng” hỏi “Có biết ai bán ma túy không, giới thiệu giúp, có người cần mua 01 chấm Kentamine và 01 Kẹo” Trắng trả lời “có, giá 1.800.000 đồng”, L đồng ý và yêu cầu T3 đưa về Quán Karaoke. Sau đó, L liên lạc qua số điện thoại của P nhưng T nghe máy và được L thông báo tiền đặt mua ma túy hết 1.800.000 đồng, T thông báo lại cho C, thì C đồng ý mua. Một lúc sau, T3 cùng với một nam thanh niên khác (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi xe mô tô đến Quán Karaoke giao ma túy cho L thì L yêu cầu để ma túy tại chân cầu thang thoát hiểm, T3 đặt ma túy vào vị trí đó rồi nhận từ L 1.800.000 đồng và rời đi.

Sau khi nghe thông báo số tiền đặt mua ma túy, thì: C đồng ý góp 1.000.000 đồng; P không có tiền nên nhờ T góp giúp 500.000 đồng rồi P chuyển trả sau, T đồng ý góp giúp cho P 500.000 đồng còn T góp 300.000 đồng; C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 43E-010.44 chở T đến trụ ATM để rút tiền. C đưa thẻ và mật khẩu cho T vào rút 950.000 đồng rồi cả hai cùng đến Quán K2. Trên đường đi, T kiểm lại tiền rồi nói với C “Tiền góp chưa đủ” nên C đưa ví cho T để T lấy thêm 50.000 đồng. Khi đến khu vực trước Quán K2, C dừng xe, T liền xuống xe rồi đi vào cầu

thang lên sảnh Q thì gặp L, T đưa cho L 1.800.000 đồng, L chỉ ra phía cầu thang thoát hiểm nơi cất giấu ma tuý. Do không thấy ma tuý nên T quay lại nói với L “Gọi nhân viên phục vụ ra xe, đưa ma túy ra luôn” rồi T ra xe bảo C ra ghế sau ngồi để T lái xe. Ngay sau đó, L cùng M đi ra xe, M lên xe ô tô ngồi dãy ghế sau cùng với C, T hạ kính cửa trước bên phụ để L thả 02 gói nilon bên trong có chứa ma tuý vào. T cầm số ma tuý trên trong tay phải rồi di chuyển xe về Tiệm ảnh.

Về đến Tiệm ảnh: C, M xuống xe đi vào Tiệm, T ngồi trên xe gọi P ra lấy ma túy để T đi mua kẹo cao su, P lấy ma túy vào để trên bàn rồi ngồi chơi cùng C và M. Khoảng 10 phút sau, T trở lại mang theo ví tiền của C và kẹo cao su để lên bàn và hỏi P ma túy đâu thì P chỉ tay lên bàn. Do viên ma túy “Kẹo” bị vỡ ra nhiều mảnh nên T đổ toàn bộ ra giữa bàn rồi T, C, P và M mỗi người chủ động sử dụng một mảnh. Sau đó, T chủ động dùng bật lửa ga hơ nóng đĩa sứ và đổ một ít ma túy Ketamine ra đĩa rồi tự ý lấy từ ví của C: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (Quấn làm ống hút) và 01 thẻ Visa (Để xào ma túy). Sau đó, T sử dụng trước rồi đưa cho C sử dụng, C sử dụng xong thì T đặt xuống bàn; P cầm đĩa đưa cho M, M sử dụng xong thì đặt đĩa xuống bàn rồi P cầm đĩa tự sử dụng. Khi P vừa sử dụng xong, thì Tổ công tác công an thành phố Đ vào kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

[2] Vật chứng thu giữ:

(2.1) Thu giữ tại hiện trường: Các tinh thể rắn màu trắng; 01 đĩa sứ; 02 túi nilon; 01 ống hút làm từ tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 Thẻ Visa.

(2.2) Thu giữ của T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14Promax và chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 43E-010.44.

(2.3) Thu giữ của P: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus.

(2.4) Thu giữ của C: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6.

(2.5) Thu giữ của L: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus và 6.000.000 đồng.

[3] Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với người sử dụng ma túy:

Toản, P, C và M, đều dương tính với ma túy loại MDMA và Ketamine.

[4] Kết quả giám định:

Tại bản Kết luận giám định số 91/KL-KTHS ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q, kết luận:

  • Phát hiện chất ma túy, loại Ketamine bám dính trên các đồ vật: 01 đĩa sứ màu trắng; 02 túi nilon trong suốt, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 thẻ Visa được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu BD;
  • Các tinh thể rắn màu trắng trong gói nilon trong suốt được niêm phong bên trong túi giấy ký hiệu MT là ma túy, loại Ketamine. Khối lượng mẫu là 0,2733 gam.

[5] Cáo trạng 78/CT-VKSĐH ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, truy tố: Các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Khánh C, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Văn L về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự;

[6] Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

(6.1) Trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Khánh C, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Văn L, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
    • Bị cáo Nguyễn Quang T: Từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.
    • Bị cáo Hoàng Khánh C: Từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng tù.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P: Từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù
  • Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L: 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 tháng

(6.2) Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: Ma túy, bao gói, các vật dụng là công cụ sử dụng ma tuý, hoàn lại sau giám định.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone14 Promax (Của T), 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus (Của P) và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus và 1.800.000 đồng (Của L);
  • Trả lại các vật chứng:
    • - Trả lại cho L: 4.200.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
    • - Trả lại cho T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
    • - Trả lại cho C: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án
    • - Trả lại cho bà H: Xe ô tô biển kiểm soát: 43E-010.44

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Thấy, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[II] Nội dung vụ án:

(1) Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Khánh C, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Văn L đều khai nhận toàn bộ hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như nội dung Bản cáo trạng số 78/CT-VKSĐH ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố các bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở, kết luận:

Khoảng 22 giờ ngày 18/12/2023, tại Tiệm ảnh của C; địa chỉ: Số A L, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, bị cáo T khởi xướng: Góp tiền mua ma túy về cả nhóm cùng sử dụng; thuê nhân viên đến phục vụ, thì được C, P đồng ý. Theo đó, T góp 300.000 đồng, C góp 1.000.000 đồng, P không có tiền nên nhờ T góp 500.000 đồng rồi trả lại cho T sau. Do không tự mua được ma tuý và thuê nhân viên phục vụ nên T, C và P, thống nhất nhờ L giới thiệu người bán hoặc đặt mua giúp ma túy. L đã “đặt mua giúp” ma tuý và gọi nhân viên (M) đến phục vụ. Có được ma tuý T, C, P và M đã cùng nhau sử dụng.

Như vậy, các bị cáo T, C, P đã cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau và cùng tổ chức cho M sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo L, tuy không tham gia cùng sử dụng ma túy nhưng L đã mua hộ ma túy để T, C và P, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, L còn gọi M đến để phục vụ và được T, C, P tổ chức cho M sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Khánh C, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Văn L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lí của nhà nước về việc sử dụng chất ma túy với mục đích chữa bệnh mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa tội phạm.

Trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tổ chức nhưng giản đơn, trong đó:

Bị cáo T có vai trò là người xướng, tự tìm người bán ma tuý để mua, khi không tìm được thì “giới thiệu” và cung cấp số điện thoại của L để cả nhóm thống nhất nhờ L giới thiệu hoặc đặt mua giúp ma tuý; Cùng góp tiền và cho P mượn tiền để góp mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy nên có vai trò cao nhất trong vụ án.

Bị cáo C: Góp tiền mua ma túy với số tiền lớn nhất (1.000.000 đồng/1.800.000 đồng), trực tiếp liên lạc với L để có được ma tuý sử dụng, sử dụng địa điểm kinh doanh của mình để tổ chức sử dụng trái phép chấp ma túy.

- Bị cáo P và bị cáo L:

P: Góp tiền (Nhờ T góp giúp, trả lại sau) mua ma túy cùng sử dụng, sử dụng điện thoại của mình liên lạc với L để C nhờ L mua giúp ma túy; L: Mua giúp ma tuý cho T, C, P và M sử dụng nên P, L có vai trò ngang nhau và thấp nhất trong vụ án.

(2) Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án này, Hội đồng xét xử thấy:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện. Ngoài ra, bị cáo P phạm tội rất nghiêm trọng nhưng có nhất thân tốt (Chưa phạm tội lần nào, chưa bị xử lý hành chính) và tham gia với vai trò thứ yếu trong vụ án có tính chất đồng phạm này (Như đã nhận định trên), gia đình bị cáo đang gặp khó khăn và bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình (Có xác nhận của chính quyền địa phương); Bị cáo L, ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã thể hiện sự ăn năn, hối cải bằng hành động: Tự khai nhận hành vi phạm tội của mình với Cơ quan chức năng khi chưa ai biết Lương thực hiện hành vi phạm tội đó, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm (Bút lục số 205), gia đình bị cáo đang gặp khó khăn và bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình (Có xác nhận của chính quyền địa phương); Gia đình bị cáo T có công với nước (Mẹ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì; Mẹ bị cáo đang thờ phụng 02 Liệt sỹ, là: Cậu ruột và bác ruột của bị cáo, bố bị cáo đã chết, vợ chồng bị cáo đang sống chung với mẹ); Gia đình bị cáo C đang gặp khó khăn và bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình (Có xác nhận của chính quyền địa phương). Vì vậy, phải áp dụng chung cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo P áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo L áp dụng

thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo P được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn.

(3) Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà các bị cáo gây cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, nhân thân đối với bị cáo C. Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo đều phạm tội rất nghiêm trọng nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là cần thiết. Riêng bị cáo L được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt và cư trú ổn định nên cần áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 và khoản 1, 2, và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn và cho bị cáo được hưởng án treo là có căn cứ và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với những người đã thực hiện hành vi phạm tội đã ăn năn, hối lỗi bằng những hành động cụ thể (T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình với Cơ quan chức năng khi chưa ai biết mình đã thực hiện hành vi phạm tội đó và tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm) như đã nhận định trên.

Thời gian các bị cáo (T, C và P) bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành án; Để đảm bảo thi hành án cần tạm giam các bị cáo T, C và P 45 ngày; Trả tự do ngay tại phiên tòa đối với bị cáo L nếu L không bị tạm giam trong vụ án khác.

(4) Các hành vi khác:

  • Hành vi bán ma túy cho L của nam thanh niên tên “Trắng” và Nam thanh niên chở “Trắng” đến giao ma túy cho L: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng chưa xác định được nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Nguyễn Thị Kiều M có trực tiếp sử dụng ma túy. Tuy nhiên, M không có hành vi giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của T, C, P và L mà chỉ là người thụ hưởng nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Ngày 30/3/2024, Công an thành phố Đ đã xử phạt vi phạm hành chính đối với M về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, là có căn cứ.

(5) Về vật chứng:

  • Ma túy, bao gói, đĩa sứ, túi ni long, Thẻ Visa và tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (Thẻ Visa và 20.000 đồng: Có bám dính chất ma túy) hoàn lại sau giám định-là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14Promax, thuộc quyền sở hữu của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, thuộc quyền sở hữu của P; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, thuộc quyền sở hữu của L. Các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội nên phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 6.000.000 đồng, thu giữ của L: Số tiền 1.800.000 đồng (Trong tổng số 6.000.000 đồng), có nguồn gốc do T, C và P góp lại để mua ma túy nên phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước; số tiền còn lại 4.200.000 đồng, thuộc quyền sở hữu của L, không liên quan đến vụ án này phải trả lại cho L nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6, thuộc quyền sở hữu của C, không liên quan đến vụ án này phải trả lại cho C nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 43E-010.44 hiện đang do bị cáo T đứng tên chủ sở hữu (Giấy chứng nhận đăng ký ô tô). Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên toà của bị cáo T và các bên liên quan, thể hiện: Bà H (Mẹ của T) là người trực tiếp chi trả tiền mua xe; tiền chi trả mua xe bà H có được từ việc cá nhân Bà chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vay thêm vốn Ngân hàng. Ngoài ra, trước khi mua xe cũng như sau này chuyển vùng (Từ Quảng Trị vào Đà Nẵng), các bên liên quan (Bà H, T và vợ của T là chị N), có lập văn bản xác nhận việc “Toản đứng tên chủ sở hữu xe ô tô, là đứng tên giúp cho bà H. Vì bà H không có bằng lái xe”. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định “Toản đứng tên trên giấy đăng ký xe ô tô, là đứng tên giúp cho bà Trương Thị H, bà H là chủ sở hữu hợp pháp đối với xe ô tô biển kiểm soát 43E-010.44; Việc T sử dụng xe ô tô làm phương tiện phạm tội, bà H không hay biết nên cần trả lại xe ô tô cho bà H là có căn cứ.

[III] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Quang T, Hoàng Khánh C (Tên gọi khác: G), Nguyễn Thanh P và Nguyễn Văn L (Tên gọi khác: D2, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Trách nhiệm hình sự:

1.1 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Quang T: 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 18/12/2023.

Hoàng Khánh C: 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 18/12/2023.

1.2 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

- Nguyễn Thanh P: 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 18/12/2023.

1.3 Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm r, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Văn L 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án, là ngày 03/7/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1 Tịch thu tiêu hủy: Ma túy, bao gói và các vật dụng sử dụng ma tuý hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 thùng giấy. Bên ngoài thùng giấy có chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K3 Công an tỉnh Q và ký hiệu MT91.

2.2 Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14Promax màu tím, số IMEI: 352872336955733; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen, số IMEI 359217070223281; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus màu đen, số IMEI: 355351086068440 và 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng);

2.3 Trả lại:

  • Trả lại cho Hoàng Khánh C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng, số IMEI1: 356679083646688 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại cho Nguyễn Quang T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus màu đen, số IMΕΙ 353839080349834 nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại cho Nguyễn Văn L: 4.200.000 đồng (bốn triệu hai trăm ngàn đồng) nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trả lại cho bà Trương Thị H: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi, màu trắng, biển kiểm soát: 43E-010.44, số khung: MK2XRNC1WLN004475, số máy: 4A91HT3727

Vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

3. Án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,

Buộc mỗi bị cáo (Nguyễn Quang T, Hoàng Khánh C, Nguyễn Thanh P và Nguyễn Văn L) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà (Bà Trương Thị H) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà (Bà Khương Thị N) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • VKSND thành phố Đông Hà;
  • Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • VKSND tỉnh Q.Trị;
  • Phòng KTNV TAND tỉnh Q.Trị;
  • Công an thành phố Đông Hà;
  • Chi cục THADS thành phố Đông Hà;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án và Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HSST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 83/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger