Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-PT

Ngày: 08-07-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Đào Trọng Hải.

Ông Trần Minh Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Thu Hằng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Ngày 08 tháng 07 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 145/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 187/2023/HS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Các bị cáo kháng cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nơi ở: G đường V, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: kinh doanh tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị N; vợ: Trương Thị Diễm H1 (đã ly hôn), con: có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2019;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/01/2023 đến ngày 03/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện trú tại: G đường V, phường T, Tp ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

  2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 tại Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tồng H2 và bà Trần Thị H3; vợ: Nguyễn Thị N1 (đã ly hôn), con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2007;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Nhân thân: tại Bản án số 31/2008/HSST ngày 18/7/2008, TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tuyên phạt 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 53 tháng về tội “Đánh bạc” (đã chấp hành xong);

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 27/3/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện trú tại: ấp C, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dương (có mặt tại phiên tòa);

  3. Nguyễn Văn T1 (tên gọi khác: S), sinh năm 1992 tại Ninh Thuận; nơi đăng ký thường trú: 3720B, khu phố E, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở: D đường B, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Kim N2 (không rõ tên cha); vợ: Trần Xuân L1, con: có 01 con sinh năm 2022;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 03/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện trú tại: D đường B, phường N, Tp., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

  4. Phạm Hoàng P, sinh năm 1984 tại Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: 84/11/4 đường T, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K và bà Hà Thị S1; vợ: Tất Mỹ L2, con: không;

    Tiền án: không; tiền sự: không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 03/02/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh, bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện trú tại: 8 đường T, phường T, Tp., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án có các bị cáo Nguyễn Bình Đ, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị M, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị P1, Tống Thị N3 nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21giờ 20 phút ngày 25/01/2023, tại quán cà phê “Trúc Ly” ở số F đường C, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đội cảnh sát hình sự Công an thành phố V phối hợp Công an phường H4, thành phố V bắt quả tang 12 đối tượng có hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc bằng hình thức đánh bài Xì zách (bài tây 52 lá) thắng thua bằng tiền gồm Nguyễn Bình Đ, Nguyễn Văn H, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Nguyễn Văn T1, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị M, Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn T, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị P1 và Tống Thị N3.

Quá trình điều tra xác định bị cáo Nguyễn Bình Đ là chủ quán cà phê “Trúc Ly” ở số F đường C, phường H, thành phố V. Do thấy nhiều khách đến uống cà phê có nhu cầu đánh bạc, ăn thua bằng tiền nên bị cáo Đ đã đồng ý cho khách sử dụng chỗ kinh doanh để đánh bài tại khu vực chòi lá bên trong quán cà phê “Trúc Ly” và thu tiền xâu để lấy tiền tiêu xài. Ngày 25/01/2023, các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Nguyễn Văn T1, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị M, Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn T, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị P1 và Tống Thị N3 đến quán cà phê “Trúc Ly” uống cà phê, sau đó thực hiện hành vi đánh bạc được thua bằng tiền. Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Xì zách” (sử dụng bộ bài tây 52 lá), mỗi ván có mức cược từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng. Không có người làm “nhà cái” cố định mà cứ 5 - 6 ván sẽ xoay vòng để thay người, mỗi ván bị cáo Đ sẽ thu số tiền xâu là 20.000 đồng của người làm cái, 5 ván thu 01 lần là 100.000 đồng.

* Cách thức chơi đánh bài “Xì zách” như sau:

  • Các bị cáo sử dụng bộ bài chuẩn 52 lá. Ban đầu, mỗi người sẽ được chia 2 lá bài, sau đó sẽ tùy ý bốc thêm bài. Người chơi sẽ cố gắng bốc hay không bốc để đạt được tổng điểm từ các lá bài càng gần hoặc bằng 21 điểm.
  • Người chơi bài xì zách làm cái xoay vòng. Ngoại trừ nhà cái, người chơi (nhà con) phải đặt cược một số tiền tùy ý trước mỗi ván chơi. Nếu thắng, họ nhận được số tiền tương đương đã đặt cược. Nếu thua, họ mất số tiền đã cược cho nhà cái.
  • Nhà cái phải có số tiền bằng hoặc lớn hơn tổng số tiền nhà con đã cược, các nhà con đều đối kháng với nhà cái.
  • Chia bài: Dùng bộ bài 52 lá, nhà cái sẽ chia lần lượt mỗi người 2 lá, các lá bài còn dư thì nhà cái cầm hoặc bỏ xuống, nhưng không được xem.
  • Tính điểm: Sau khi chia bài, mỗi người chơi sẽ tùy vào điểm số của mình mà tùy chọn bốc thêm bài hoặc dừng, nhà cái sẽ bốc bài sau cùng.

* Cách tính điểm như sau: Các lá bài: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 thì số điểm tương ứng với con số; các lá bài: J, Q, K thì mỗi lá được tính 10 điểm; Lá bài át (A): Có thể tính linh hoạt là 1 điểm, 10 điểm hoặc 11 điểm. Tổng điểm là điểm của tất cả các lá bài trên tay cộng lại.

Giai đoạn 1: Tính điểm 2 lá, với 2 lá bài đầu tiên, nếu có bài sau đây sẽ dừng luôn để hưởng lợi: Xì bàng: 2 lá AA; Xì dách: 1 lá A và thêm một trong các lá 10, J, Q, K; Nếu nhà cái có bài như trên thì sẽ thắng hết nhà con (ngoại trừ nhà con nào có bài bằng hoặc cao hơn).

Giai đoạn 2: Bốc thêm bài. Sau khi tính điểm 2 lá, người chơi có quyền bốc thêm bài hoặc dừng sao cho số điểm nằm trong khoảng từ 16 đến 21 điểm.

Các thuật ngữ: Đủ: Bài từ 16 đến 21 điểm; Quá (quắc): Bài lớn hơn 21 điểm. Bài từ 16 điểm đến 18 điểm có thể bốc tiếp; khi bị quá trên 21 điểm người chơi không có quyền bốc tiếp.

Vòng đánh: Bắt đầu từ bên phải của nhà cái theo ngược chiều kim đồng hồ. Từng người sẽ bốc bài đến khi dừng; Nhà con phải có số điểm từ 16 trở lên trước khi nhà cái kiểm bài. Nếu không, người đó bị xử thua luôn. Nhà cái sẽ so bài với tất cả nhà con. Nếu nhà cái hơn điểm của một nhà con nào đó thì sẽ được ăn phần cược của nhà con đó. Ngược lại sẽ phải trả số tiền bằng số tiền mà nhà con đã cược, nếu số điểm bằng nhau thì hòa.

Các trường hợp đặc biệt: Ngũ linh: 5 lá bài mà tổng điểm từ 21 điểm trở xuống hoặc 02 con Xì (A), người chơi thắng tuyệt đối ăn gấp đôi. Trường hợp cả 2 bên đều ngũ linh, ai ít điểm hơn sẽ thắng. Quá 21 điểm: 2 bên cùng quá thì ai ít điểm hơn sẽ thắng.

Các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Nguyễn Văn T1, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị M, Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn T, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị P1 và Tống Thị N3 bắt đầu đánh bạc từ khoảng 16 giờ 00 phút ngày 25/01/2023 đến 21 giờ 20 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 18.900.000đồng và tiền xâu 1.500.000đồng.

Số tiền tham gia đánh bạc của từng bị cáo được xác định như sau:

  • Bị cáo Nguyễn Văn H mang theo số tiền 20.000.000 đồng để sử dụng đánh bạc, bị cáo H và bị cáo Nguyễn Văn T (do bị cáo T không mang theo tiền) cùng thay nhau chơi chung một tụ. Khi bị bắt quả tang, bị cáo H còn số tiền 19.000.000 đồng.
  • Bị cáo Lê Thị Hà E mang theo số tiền 3.300.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang đã bỏ chạy và đánh rơi hết tiền.
  • Bị cáo Tống Thị T2 mang theo số tiền 4.200.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ 3.000.000 đồng, bị thua 1.200.000 đồng.
  • Bị cáo Phạm Hoàng P mang theo số tiền 3.800.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ 4.200.000 đồng, đánh thắng 400.000 đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Văn T1 mang theo số tiền 20.000.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ 400.000 đồng. Số tiền còn lại theo bị cáo T1 khai báo là khoảng hơn 10.000.000 đồng do sợ nên đã ném xuống chiếu bạc.
  • Bị cáo Phan Thị Diệu L3 mang theo số tiền 10.000.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ 5.000.000 đồng, bị thua 5.000.000 đồng.
  • Bị cáo Lê Thị M mang theo số tiền 3.500.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ 3.000.000 đồng, bị thua 500.000 đồng.
  • Bị cáo Tống Thị N3 mang theo số tiền 4.700.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ 5.200.000 đồng, đánh bạc thắng 500.000 đồng.
  • Bị cáo Lê Thị P1 mang theo số tiền 7.500.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang thu giữ 6.000.000 đồng, bị thua 1.500.000 đồng.
  • Bị cáo Đ1 Trần Đức D mang theo 2.800.000 đồng để sử dụng đánh bạc, khi bị bắt quả tang không thu giữ gì do đã thua hết tiền.

Như vậy, tổng số tiền các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Nguyễn Văn T1, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị M, Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn T, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị P1 và Tống Thị N3 sử dụng để đánh bạc vào ngày 25/01/2023 là 79.800.000 đồng.

Tổng số tiền thu giữ được là 66.200.000 đồng (trong đó: số tiền thu giữ trên chiếc bạc là 18.900.000 đồng; số tiền xâu là 1.500.000 đồng; số tiền thu giữ của các bị cáo là 45.800.000 đồng), các bị cáo khai nhận do trong quá trình bỏ chạy đã làm rơi một số tiền.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 187/2023/HSST ngày 19/7/2023, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bình Đ phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Nguyễn Văn T1, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị M, Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn T, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị P1 và Tống Thị N3 phạm tội “Đánh bạc”;

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự:

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 03/02/2023;

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 27/3/2023;

Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 03/02/2023;

Tuyên phạt bị cáo Phạm Hoàng P 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 03/02/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt cho các bị cáo Nguyễn Bình Đ, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị M, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị P1, Tống Thị N3; tuyên phạt các bị cáo từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù; tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 25, 27 và 31/7/2023, các bị cáo Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo, kèm theo đơn kháng cáo, các bị cáo cung cấp tài liệu mới là Đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình.

Tại phiên tòa phúc thẩm: các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: các bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã kết án các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H, T, T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt bị cáo P 03 (ba) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ tội phạm và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo H, T1, P đều là người có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, các bị cáo bị truy tố và xét xử theo Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là do tổng số tiền của 11 bị cáo tham gia đánh bạc cộng lại, còn cá nhân mỗi bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn. Ngoài ra, các bị cáo cung cấp tài liệu chứng cứ mới kèm theo đơn kháng cáo là Xác nhận của chính quyền địa phương về việc các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và là lao động chính trong gia đình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, P, T1 và chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

2.1 Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng của vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 25/01/2023, bị cáo Nguyễn Bình Đ - chủ quán cà phê “Trúc Ly” ở số F đường C, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã sử dụng chỗ kinh doanh của mình để cho các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị M, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Đoàn Trần Đức D, Phạm Hoàng P, Lê Thị P1 và Tống Thị N3 đánh bạc để thu tiền xâu, tổng số tiền thu giữ được là 66.200.000 đồng (trong đó: tiền thu giữ trên chiếc bạc là 18.900.000 đồng; tiền xâu là 1.500.000 đồng; tiền thu giữ trên người của các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 45.800.000 đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Bình Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị M, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị P1 và Tống Thị N3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Dựa vào số người tham gia, số tiền và phương thức đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Bình Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự và tuyên xử các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P, Phan Thị Diệu L3, Lê Thị M, Lê Thị Hà E, Tống Thị T2, Đoàn Trần Đức D, Lê Thị P1 và Tống Thị N3 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

2.2 Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù nhận thức được đánh bạc là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì ham mê đỏ đen, muốn kiếm tiền mà không cần lao động chân chính nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và xã hội nên cần phải xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, tuyên phạt bị cáo H, T, T1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo P 03 (ba) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo.

Tuy nhiên, xét thấy ngoài bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân xấu, các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Bản thân các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền không lớn (bị cáo T chỉ bốc bài giúp bị cáo H), việc các bị cáo bị truy tố theo quy định tại Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự là dựa trên toàn bộ số tiền thu giữ được của 11 bị cáo. Hơn nữa, các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình và có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn T và chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P, tuyên phạt các bị cáo H, T1, P một mức án nghiêm khắc nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 36/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355, điểm c, e Khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T và chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 187/2023/HS-ST ngày 19/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, về phần hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P;

    Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 25/01/2023 đến ngày 27/03/2023;

    Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn T1 cho chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Phạm Hoàng P cho chính quyền địa phương là Ủy ban nhân dân phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, nếu phạm tội trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.

  2. Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T1, Phạm Hoàng P, Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. (08/07/2024)

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh BR - VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR – VT;
  • - PV 27 – Công an tỉnh BR - VT;
  • - TAND thành phố Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu, Tòa hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bùi Thái Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-PT ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 83/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger