|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày 29 - 10- 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu
Ông Trần Bình Trọng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024;
Đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Xuân L; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 19/02/2004, tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Bố: Đinh Xuân Q – Sinh năm 1958; Mẹ: Nguyễn Thị T – Sinh năm 1960; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự, Không.
Nhân thân: Ngày 26/5/2022 Nguyễn Xuân L bị Tòa án nhân dân huyện Yên Định xử phạt 22 tháng tù giam về tội: Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 cho đến ngày 05/8/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định.
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Ngày 07/5/2024, Nguyễn Xuân L chấp hành xong án phạt tù được ra trại nhưng Lưu không về Công an xã Đ trình báo mà tiếp tục vào các quán internet để chơi game cho đến khoảng 11 giờ ngày 08/5/2024, sau khi chơi Game tại một quán internet thuộc xã Đ, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Xuân L đã nảy sinh ý định tìm tài sản của nhà dân để trộm cắp. L đi xe đạp từ quán internet xuống xã Đ, khi đến thôn B, xã Đ, L thấy một quán cắt tóc, gội đầu của gia đình anh Lê Thế D (sinh năm 1968, ở thôn B, xã Đ) trên đường tỉnh lộ nhưng đóng cửa quán, trên góc tường trước quán có lắp đặt 01 mắt camera an ninh. Sau khi quan sát người dân xung quanh, L đã trèo lên chậu cây cảnh, dùng tay lấy thẻ nhớ bên trong mắt camera bỏ vào túi quần đùi bên phải đang mặc rồi tiếp tục đạp xe đi tìm tài sản khác để trộm cắp, khi L đi được khoảng 10m thì bị tổ tuần tra Công an xã Đ và người dân nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện tang vật như trên, đồng thời lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Xuân L về hành vi trộm cắp tài sản và thu giữ 01 thẻ nhớ loại 32GB, màu đen, 01 xe đạp nữ màu xanh, đã cũ, đã qua sử dụng của L đồng thời đưa L về trụ sở Công an làm việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Y, kết luận tại thời điểm trộm cắp 01 thẻ nhớ loại 32GB, màu đen nêu trên có trị giá 50.000 đồng.
Hành vi trộm cắp nêu trên của L đã gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến đường lối chính sách vận động nhân dân lắp đặt Camera giám sát của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương trong khi các xã và thị trấn trên địa bàn toàn huyện Y đang xây dựng đạt chuẩn nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao và nông thôn mới kiểu mẫu. Chính quyền địa phương các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Y đang ra sức vận động nhân dân lắp đặt Camera giám sát để bảo vệ an ninh nhằm ổn định trật tự trên đìa bàn, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật nhất là hành vi trộm cắp tài sản đang diễn ra khắp nơi. Hành vi của L đã bị nhân dân và chính quyền địa phương báo cáo yêu cầu xử lý nghiêm Nguyễn Xuân L theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra do có tài liệu chứng minh bị cáo có hồ sơ Bệnh án liên quan đến bệnh tâm thần, do đó Cơ quan điều tra đã thu thập các tài liệu, ra quyết định trưng cầu và đưa bị cáo đi giám định tâm thần, tại bản kết luận giám định số 245/KLGĐ ngày 10/9/2024 của V kết luận: Tại các thời điểm trước, trong, sau ngày 08/5/2024 và tại thời điểm giám định, bị cáo Nguyễn Xuân L bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 có mã F70. Tại các thời điểm trên bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo xác định L đang ở cùng mẹ, không có công việc làm nên không có tài sản riêng, không có thu nhập gì, gia đình bị cáo không thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo.
Bị cáo từng bị xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, là tội phạm nghiêm trọng, tuy nhiên khi bị xét xử bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” và “người phạm tội thành khẩn khai báo".
Về vật chứng vụ án:
Quá trình điều tra đã thu giữ: 01 chiếc xe đạp nữ màu xanh, 01 thẻ nhớ loại 32GB, màu đen, sau khi điều tra đã được làm rõ, việc L sử dụng xe đạp của bà Nguyễn Thị T đi trộm cắp tài sản bà T không biết, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp cho bà T, trả lại cho ông D 01 thẻ nhớ là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Ông D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKSYĐ ngày 30/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân L, về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Xuân L thừa nhận: trưa ngày 08/5/2024, Nguyễn Xuân L đã có hành vi trộm cắp 01 thẻ nhớ loại 32GB, màu đen có trị giá 50.000 đồng của gia đình ông Lê Thế D, sinh năm 1968 ở thôn B, xã Đ, huyện Y lắp trên góc tường trước quán cắt tóc, gội đầu của gia đình thì bị bắt quả tang.
Hành vi trộm cắp của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến đường lối chính sách vận động nhân dân lắp đặt Camera giám sát của nhà nước trong xây dựng nông thôn mới, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
Mặc dù giá trị tài sản dưới 2.000.000đ nhưng bị cáo Nguyễn Xuân L phạm tội đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội đã gây ra đúng như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân L, phạm tội “ Trộm cắp tài sản ”:
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm s, điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân L từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng là 01 chiếc xe đạp nữ màu xanh, 01 thẻ nhớ loại 32GB, màu đen, sau khi điều tra đã được làm rõ, việc L sử dụng xe đạp của bà Nguyễn Thị T đi trộm cắp tài sản bà T không biết, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp cho bà T, trả lại cho bị hại là ông D 01 thẻ nhớ loại 32GB, màu đen nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của Đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin được giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên trưa ngày 08/5/2024, Nguyễn Xuân L đã có hành vi trộm cắp 01 thẻ nhớ loại 32GB, màu đen có trị giá 50.000 đồng của gia đình ông Lê Thế D, sinh năm 1968 ở thôn B, xã Đ, huyện Y lắp trên góc tường trước quán cắt tóc, gội đầu của gia đình thì bị bắt quả tang.
Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra.
Bị cáo Nguyễn Xuân L là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, mặc dù tài sản bị cáo phạm tội là 50.000 đồng nhưng Nguyễn Xuân L phạm tội đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Trong vụ án này bị cáo chỉ vì muốn có tiền sử dụng mà không phải lao động nên khi thấy có sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, đã bất chấp pháp luật, lợi dụng để chiếm đoạt tài sản của người khác. Vụ án xảy ra đã gây tâm lý hoang mang bất bình trong nhân dân, đồng thời gây mất trật tự trị an, làm ảnh hưởng đến sự an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Do vậy, việc đưa vụ án ra xét xử và lên một mức án nghiêm minh đối với bị cáo là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lưu không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “ Người phạm tội thành khẩn khai báo”, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo là “ Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”, quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt: Từ những phân tích, đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo L là người đã trưởng thành, có đủ sức khỏe nhưng hạn chế về nhận thức nhưng lười lao động, coi thường pháp luật; Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù, bắt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo, đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm. Xét thấy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo sớm trở về hòa nhập với cộng đồng xã hội; xử phạt bị cáo mức án phạt tù thấp hơn đề nghị của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Lê Thế D không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, nên miễn xét.
[8] Về vật chứng vụ án: 01 chiếc USB loại 32G màu đen, đã qua sử dụng, đây là tài sản mà bị cáo L đã chiếm đoạt của ông Lê Thế D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc USB trên cho ông D; 01 chiếc xe đạp nữ màu xanh, sau khi điều tra đã được làm rõ, việc L sử dụng xe đạp của bà Nguyễn Thị T đi trộm cắp tài sản bà T không biết, vì vậy Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp cho bà T là đúng quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm s, điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân L 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân L cho UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cánh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại cho bị hại 01 chiếc thẻ nhớ loại 32 GB, màu đen đã qua sử dụng; 01 chiếc xe đạp nữ màu xanh cho bà T, nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Xuân L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Hồng Đức |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân L, phạm tội “Trộm cắp tài sản”
