TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 83/2024/HS-ST Ngày: 25-4-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châu Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Thành Viên.
- Bà Nguyễn Thị Kim Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thu Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Quách Diệp Nguyệt T - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/HSST-QĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thị Ngọc T1, sinh năm: 1982, tại: Tiền Giang; hộ khẩu thường trú: Tổ D ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Quốc V và bà Nguyễn Thị R; Có chồng tên Lê Văn T2 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2018; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ, tạm giam ngày: 12/12/2023; (Có mặt).
Bị hại: Bà Võ Thị Hoàng Q, sinh năm 1986; HKTT: 223/2/5 Đường số H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Tấn T3, sinh năm 1985; HKTT: 1 C, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: 946 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Bà Trần Thị K, sinh năm 1978; HKTT: H N, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Ông Lê Đình C, sinh năm 1984; HKTT: 303/19 KP5, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: 5 T, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Hồng N; địa chỉ: G Đường số A, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 18/10/2023, bị cáo Phạm Thị Ngọc T1 được bà Võ Thị Hoàng Q thuê làm vệ sinh, dọn dẹp nhà cửa theo tháng, thời gian làm việc từ 13 giờ 00 đến 17 giờ 00 hàng ngày, trả lương theo tháng đầu là 4.000.000 đồng/tháng, làm việc tại nhà số B Đường số H, Phường A, quận G. Trong thời gian làm việc từ ngày 20/10/2023 đến ngày 22/11/2023, bà Võ Thị Hoàng Q không giao chìa khóa nhà cho bị cáo, không giao tài sản cho bị cáo trông coi, biết bà Q để vàng trong tủ quần áo, bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/10/2023, trong lúc dọn dẹp tủ để quần áo của vợ chồng bà Q trên lầu 2, biết ngăn tủ dưới cùng có cất nữ trang vàng không khóa tủ, Phạm Thị Ngọc T1 kéo ngăn tủ dưới cùng ra phát hiện có 02 nhẫn vàng trơn (mỗi nhẫn là 1 chỉ), loại vàng 24K và 01 sợi dây chuyền vàng, trọng lượng 03 chỉ, loại vàng 18K (có hình dạng ống trụ được nối với nhau bằng mắt xích, không mặt dây chuyền) để trong một hộp hình chữ nhật. Quan sát không có ai trong phòng, bị cáo lén lút lấy số nữ trang trên cất giấu trong túi quần. Chờ đến hết giờ làm việc bị cáo đến tiệm V1, địa chỉ I L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bán 02 nhẫn vàng trơn loại vàng 24K với giá 11.000.000 đồng cho ông Phạm Tấn T3. Ông Phạm Tấn T3 chuyển từ tài khoản số [...] của ông Phạm Tấn T3 mở tại Ngân hàng Q1 chuyển vào tài khoản của bị cáo số 03501904501 mở tại Ngân hàng T5 số tiền 8.000.000 đồng và đưa 3.000.000 đồng tiền mặt cho bị cáo. Ngày 23/10/2023, bị cáo tiếp tục mang 01 sợi dây chuyền vàng, trọng lượng 03 chỉ, loại vàng 18K chiếm đoạt của bà Q đến tiệm V2, địa chỉ C L, Phường A, quận G bán cho nhân viên tiệm vàng. Nhân viên tiệm vàng kiểm tra sợi dây chuyền và nói sợi dây chuyền này bị hư phải nấu chảy ra tính khối lượng rồi mới mua thì bị cáo đồng ý. Sau khi kiểm tra chất lượng vàng thì nhân viên tiệm vàng trả cho bị cáo 4.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 22/11/2023, bị cáo tiếp tục đến nhà bà Q làm việc bình thường và phát hiện bàn trang điểm của bà có để 01 nhẫn cưới có khắc tên vợ chồng bà Q, loại vàng 18K, trọng lượng 1,3 chỉ, và 02 bông tai vàng 18K có gắn hạt đá, trọng lượng 0,5 chỉ. Bị cáo lén lút cất giấu vào túi quần rồi chờ hết giờ làm đem đến tiệm V3 địa chỉ 5 đường T phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho chủ tiệm vàng là Lê Đình C với giá 4.040.000 đồng.
Tổng số tiền bán vàng được là 19.040.000 đồng, bị cáo tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 09/12/2023, bà Q phát hiện số nữ trang để trong hộc tủ quần áo và trong bàn trang điểm bị mất nên cho rằng bị cáo là người trộm cắp nên trình báo Công an P, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Phạm Tấn T3 khai có mua 02 nhẫn vàng trơn, trọng lượng 02 chỉ, loại vàng 24k của Phạm Thị Ngọc T1 với giá 11.000.000 đồng. Sau khi thu mua, ông Phạm Tấn T3 đã nấu chảy chế biến thành phẩm nên không thu hồi được.
Bà Trần Thị K, chủ tiệm V2 và nhân viên Thạch Thị Ly khai vào ngày 20/10/2023, tiệm V2 không thu mua 01 dây chuyền vàng 18k của Phạm Thị Ngọc T1 nên không thu hồi được. Kiểm tra camera an ninh tại tiệm vàng không thu được hình ảnh của Phạm Thị Ngọc T1 và nhân viên giao dịch mua bán vàng vào chiều ngày 20/10/2023 tại tiệm V2 do không có lưu trữ trong bộ nhớ.
Ông Lê Đình C, chủ tiệm V3 khai không nhớ chính xác có thu mua 02 nhẫn cưới loại vàng 18 K có gắn hạt đá, khắc tên vợ chồng chị Võ Thị Hoàng Q và 02 bông tai. Kết quả kiểm tra camera tại tiệm V3 không còn lưu trữ dữ liệu.
Người bị hại bà Võ Thị Hoàng Q khai trị giá số nữ trang vàng mà Phạm Thị Ngọc T1 chiếm đoạt trị giá 32.000.000 đồng. Tất cả số vàng trên không còn hóa đơn mua vàng.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự Ủy bản nhân dân quận G kết luận: 02 cái nhẫn trơn loại vàng 24K, mỗi cái là 01 chỉ vàng, trị giá 11.480.000 đồng; 01 dây chuyền 03 chỉ vàng 18k trị giá 10.280.000 đồng; 02 bông tai 0,5 chỉ vàng 18k trị giá 1.713.333 đồng; 01 nhẫn cưới 1,3 chỉ vàng 18k trị giá 4.454.667 đồng. Tổng tài sản bị chiếm đoạt là 27.928.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Phạm Tấn T3 đã tự nguyện trả lại cho bà Võ Thị Hoàng Q số tiền 11.000.000 đồng là tiền đã mua 02 cái nhẫn vàng 24k. Ông Phạm Tấn T3 yêu cầu bị cáo phải bồi thường trả lại số tiền 11.000.000 đồng. Bà Võ Thị Hoàng Q yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường đối với số vàng đã chiếm đoạt còn lại là 16.928.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe mô tô biển kiểm soát: 59L1-524.74, qua xác minh do bà Nguyễn Hồng N làm chủ sở hữu. Xác minh tại địa chỉ G Đường số A, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện nay bà Nguyễn Hồng N không còn cư trú tại địa chỉ này. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên nhưng chưa có ai đến liên hệ. Bị cáo khai mua xe này của bà Nguyễn Hồng N là chị dâu của bị cáo, mua bán giấy tay chưa làm thủ tục sang tên.
- - 01 điện thoại hiệu Samsung galaxy A21s đã qua sử dụng có gắn sim là tài sản của Phạm Thị Ngọc T1, không liên quan đến vụ án.
- - 01 đầu thu camera tại cửa hàng V4, đã được niêm phong là tài sản của Tiệm V2 tự giao nộp để phục vụ điều tra.
- - 01 đầu thu camera ký hiệu KB Vision, model: KX-4K8104N2 của tiệm V3 là tài sản của T4 vàng Kim Phát Thanh X tự giao nộp để phục vụ điều tra.
Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKS.GV, ngày 13/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Phạm Thị Ngọc T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc T1 từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
- - Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trả lại cho bà Trần Thị K 01 đầu thu camera hiệu HIK Vision, đã qua sử dụng.
Trả lại cho ông Lê Đình C 01 đầu thu camera hiệu KB Vision, model: KX-4K8104N2, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Samsung galaxy A21s đã qua sử dụng có gắn sim số 0902.927.378, đã qua sử dụng.
Giao Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 tháng đối với: 1 (một) xe mô tô honda Vision, biển số 59L1-254.74, số máy: JF33E0193048;số khung: RLHJF3307CY193429, đã qua sử dụng. Nếu quá thời hạn này mà không ai đến nhận thì trả lại cho bị cáo. Bị cáo có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.
Tại phiên tòa khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật nên không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phiên tòa: Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Trong hồ sơ vụ án thể hiện: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày lời khai và yêu cầu, vì vậy căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Phạm Thị Ngọc T1 đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận G, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Trong các ngày 20/10/2023 và 22/11/2023, tại địa chỉ 2 Đường số H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đã lén lút lấy trộm của bị hại các tài sản là: 02 cái nhẫn trơn loại vàng 24K, mỗi cái là 01 chỉ vàng, trị giá 11.480.000 đồng; 01 dây chuyền 03 chỉ vàng 18k trị giá 10.280.000 đồng; 02 bông tai 0,5 chỉ vàng 18k trị giá 1.713.333 đồng; 01 nhẫn cưới 1,3 chỉ vàng 18k trị giá 4.454.667 đồng; tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 27.928.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 75/CT-VKS.GV, ngày 13/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh, hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã 2 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên đây là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đồng thời qua đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa bà Võ Thị Hoàng Q vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện bà yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường đối với số vàng đã chiếm đoạt của bà còn lại là 16.928.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà Võ Thị Hoàng Q. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là yêu cầu và sự thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật nên ghi nhận.
Tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Tấn T3 vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện ông Phạm Tấn T3 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 11.000.000 đồng, là số tiền ông T3 mua 02 cái nhẫn vàng 24k của bị cáo, ông T3 tự nguyện trả lại cho bà Võ Thị Hoàng Q. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của ông Phạm Tấn T3. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là yêu cầu và sự thỏa thuận tự nguyện, không trái pháp luật nên ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 59L1-524.74, qua xác minh do bà Nguyễn Hồng N làm chủ sở hữu. Xác minh tại địa chỉ G Đường số A, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện nay bà Nguyễn Hồng N không còn cư trú tại địa chỉ này. Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm chủ sở hữu chiếc xe trên nhưng chưa có ai đến liên hệ. Bị cáo khai mua xe này của bà Nguyễn Hồng N là chị dâu của bị cáo, mua bán giấy tay chưa làm thủ tục sang tên. Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 tháng, nếu quá thời hạn này mà không ai đến nhận thì trả lại cho bị cáo. Bị cáo có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.
- - 01 điện thoại hiệu Samsung galaxy A21s đã qua sử dụng có gắn sim số 0902.927.378 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- - 01 đầu thu camera tại cửa hàng V4 do bà Trần Thị K tự giao nộp để phục vụ điều tra; 01 đầu thu camera ký hiệu KB Vision, model: KX-4K8104N2 của tiệm V3 do ông Lê Đình C tự giao nộp để phục vụ điều tra, qua kiểm tra không có dữ liệu hình ảnh liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bà Trần Thị K và ông Lê Đình C.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
[8] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
[9] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc T1 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/12/2023.
Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 46; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trả lại cho bà Trần Thị K 01 đầu thu camera hiệu HIK Vision, đã qua sử dụng.
Trả lại cho ông Lê Đình C 01 đầu thu camera hiệu KB Vision, model: KX-4K8104N2, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Samsung galaxy A21s đã qua sử dụng có gắn sim số 0902.927.378, đã qua sử dụng.
Giao Chi cục Thi hành án Dân sự quận Gò Vấp tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 03 tháng đối với: 1 (một) xe mô tô honda Vision, biển số 59L1-254.74, số máy: JF33E0193048;số khung: RLHJF3307CY193429, đã qua sử dụng. Nếu quá thời hạn này mà không ai đến nhận thì trả lại cho bị cáo. Bị cáo có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký sang tên theo quy định.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 09/PNK ngày 19/01/2024 và 44/PNK ngày 27/02/2024 của Công an quận G)
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bà Võ Thị Hoàng Q số tiền 16.928.000 đồng (Bằng chữ: Mười sáu triệu chín trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho ông Phạm Tấn T3 số tiền 11.000.000 đồng (Bằng chữ: Mười một triệu đồng).
Căn cứ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Dân sự;
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bà Võ Thị Hoàng Q, ông Phạm Tấn T3 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không bồi thường số tiền nêu trên cho bà Võ Thị Hoàng Q và ông Phạm Tấn T3 thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Việc thi hành án được thực hiện tại Cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a, c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 1.396.400 đồng (Bằng chữ: Một triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn bốn trăm đồng).
Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Châu Ly |
Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 83/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Ngọc T1 phạm tội "Trộm cắp tài sản"
