Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 24-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương
  • Bà Vũ Thị Huyền
  • Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhật Lệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Mạnh H; Sinh năm 1996 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nơi tạm trú và chỗ ở hiện nay: Tổ B, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH MTV T4; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Huy T, sinh năm 1974 và bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1975; Vợ: Đỗ Thanh H1, sinh năm 1997; Con: Có 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2024 cho đến nay (Có mặt).
  2. Trần Văn T2; Sinh năm 1976 tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Kế toán Công ty TNHH MTV T4; Là Đảng viên Đ, hiện đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Quốc V, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952; Vợ: Hoàng Thị H2, sinh năm 1982; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/6/2024 cho đến nay (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chi Cục thuế khu vực thành phố L - T, tỉnh Lai Châu; Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Tiến T3 - Chi cục trưởng - Trú tại: Đường V, phường Q, thành phố L, tỉnh Lai Châu (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Công ty TNHH MTV T4 (viết tắt là Công ty T4) được phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh L cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu ngày 27/7/2018, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 01/9/2021, trụ sở tại số nhà B, tổ A, phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu, mã số doanh nghiệp F vốn điều lệ 8.000.000.000 đồng, Giám đốc là Nguyễn Mạnh H, Kế toán trưởng là Trần Văn T2.

Năm 2021, Trần Văn T2 báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty T4 năm 2021 có lãi và đề xuất với Nguyễn Mạnh H lập khống chứng từ chi phí tiền lương cho người lao động để làm tăng chi phí tiền lương, từ đó giảm lợi nhuận, giảm tiền thuế mà Công ty phải nộp, H nhất trí. Để lập khống chứng từ chi cho 16 người lao động, T2 và H xin thông tin của những người quen để cho Trung lập 16 hợp đồng lao động không làm việc thực tế tại Công ty rồi chuyển H ký xác nhận tại mục người sử dụng lao động. Hàng tháng, Trung lập bảng chấm công, phiếu chi, bảng thanh toán tiền lương đối với 16 hợp đồng lao động khống, trình H ký. Báo cáo tài chính năm 2021 thể hiện Công ty T4 đã kê khai, hạch toán chi phí tiền lương đối với 16 hợp đồng lao động khống là 1.481.625.600 đồng.

Tại kết luận giám định số 551/KL-GĐV ngày 10/6/2024 của Cục thuế tỉnh L kết luận: Hành vi của Công ty TNHH MTV T4 “Sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế không phải nộp” là hành vi trốn thuế. Tổng số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tăng thêm qua giám định là 207.427.584 đồng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Trần Văn T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về các vấn đề khác của vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận: Đối với tổng số tiền trốn thuế các bị cáo đã tự nguyện nộp tại Cơ quan điều tra là 207.428.000 đồng, trong đó: Bị cáo Nguyễn Mạnh H nộp 150.000.000 đồng, bị cáo Trần Văn T2 nộp 57.428.000 đồng là tiền các bị cáo nộp để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội các bị cáo đã gây ra.

Người đại diện theo pháp luật của Chi cục thuế khu vực thành phố L - Tam Đường trình bày: Công ty T4 đã quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2021, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước toàn bộ số tiền trốn thuế là 207.427.584 đồng của Công ty T4.

Đối với 10 người lao động mà Công ty T4 lập hợp đồng lao động khống năm 2021, kết quả điều tra xác định họ đều không biết các bị cáo sử dụng thông tin cá nhân của mình để lập khống nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKSLC-P1 ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Trần Văn T2 về tội "Trốn thuế" theo điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Trần Văn T2 phạm tội "Trốn thuế".

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt mỗi bị cáo từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng. Áp dụng khoản 4 Điều 200 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; miễn các hình phạt bổ sung còn lại cho các bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền trốn thuế là 207.428.000 đồng mà các bị cáo nộp khắc phục hậu quả.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Vì mục đích trốn thuế nên trong năm 2021, Nguyễn Mạnh H là Giám đốc cùng Trần Văn T2 là Kế toán trưởng của Công ty TNHH MTV T4 đã bàn bạc, thực hiện hành vi sử dụng tài liệu không hợp pháp để xác định sai số tiền thuế phải nộp, cụ thể là thực hiện việc chi khống lương cho 16 hợp đồng lao động mục đích để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp với tổng số tiền là 207.427.584 đồng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý thuế của Nhà nước dẫn đến thất thu ngân sách Nhà nước. Các bị cáo nhận thức được việc trốn thuế là vi phạm pháp luật nhưng vì tư lợi nên vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do đó, hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn thuế” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự.

Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Trần Văn T2 là người khởi xướng và là người thực hành; bị cáo Nguyễn Mạnh H là người quyết định và là người thực hành nên vai trò của các bị cáo là ngang nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã liên đới tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế là 207.428.000 đồng, trong đó bị cáo Nguyễn Mạnh H tự nguyện nộp 150.000.000 đồng, bị cáo Trần Văn T2 tự nguyện nộp 57.428.000 đồng cho Cơ quan điều tra; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bố đẻ bị cáo Nguyễn Mạnh H là ông Nguyễn Huy T được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen năm 2019; vợ bị cáo Trần Văn T2 là bà Hoàng Thị H2 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen năm 2019 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố L tặng Giấy khen năm 2019. Do đó các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục cũng như công tác phòng ngừa chung trong xã hội.

Do đó quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 200 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo; các hình phạt bổ sung còn lại miễn cho các bị cáo.

[5].Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự buộc các bị cáo phải liên đới nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế để sung quỹ Nhà nước. Các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận, bị cáo Nguyễn Mạnh H nộp 150.000.000 đồng, bị cáo Trần Văn T2 nộp 57.428.000 đồng, tổng cộng là 207.428.000 đồng. Xác nhận các bị cáo đã nộp đủ, hiện đang lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu.

[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[7]. Kiến nghị: Chi cục thuế khu vực thành phố L - T, tỉnh Lai Châu cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc nộp thuế của các Doanh nghiệp trên địa bàn để tránh xảy ra sai phạm bị xử lý về hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 200, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 48, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; Các Điều 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật dân sự khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Trần Văn T2 phạm tội "Trốn thuế".
  2. Về hình phạt:
    • - Phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
    • - Phạt bị cáo Trần Văn T2 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
  3. Về trách nhiệm dân sự:

    Buộc các bị cáo Nguyễn Mạnh H, Trần Văn T2 phải liên đới nộp lại số tiền trốn thuế là 207.428.000 đồng (Hai trăm linh bảy triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng), trong đó: Bị cáo H nộp 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng), bị cáo T2 nộp 57.428.000 đồng (Năm mươi bảy triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước. Xác nhận các bị cáo đã nộp đủ, hiện đang lưu giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh LCục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 29/8/2024).

  4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Công an tỉnh Lai Châu;
  • - Cục THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Các bị cáo; Người có QL,NVLQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về trốn thuế

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vì mục đích trốn thuế nên trong năm 2021, Nguyễn Mạnh H là Giám đốc cùng Trần Văn T2 là Kế toán trưởng của Công ty TNHH MTV T4 đã bàn bạc, thực hiện hành vi sử dụng tài liệu không hợp pháp để xác định sai số tiền thuế phải nộp, cụ thể là thực hiện việc chi khống lương cho 16 hợp đồng lao động mục đích để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp với tổng số tiền là 207.427.584 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger