Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 19 – 11 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.

Thẩm phán: Ông Phạm Quốc Bảo.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sang;

Ông Phạm Ngọc Vinh;

Bà Phan Thị Thanh Sen.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: **Võ Thị L**, sinh ngày 26/3/1979, tại huyện P, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: điều dưỡng; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Võ Ngọc A và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); chồng là Nguyễn Thanh S (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Võ Thị L theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Trương Ngọc T1 – Văn phòng L6, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: lô A, đường N, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

* Bị hại:

  1. Bà Lư Thị Minh C, sinh năm 1970. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  2. Bà Trần Thị K, sinh năm 1964. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Lệ T2, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khối phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  4. Bà Lê Thị L1, sinh năm 1956 (đã chết). Địa chỉ: phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1981; ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985. Bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Văn Đ ủy quyền cho ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979; địa chỉ: khối phố X, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam, đại diện tham gia tố tụng. Có mặt.
  5. Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1976. Địa chỉ: khối phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  6. Bà Trần Thị Kim T3, sinh năm 1987, Địa chỉ: số G Đ, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
  8. Bà Võ Thị L2, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  9. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1975. Địa chỉ: khối phố M, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
  10. Ông Nguyễn Hoàng L3, sinh năm 1977. Địa chỉ: thôn A, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thị L là nhân viên Điều dưỡng, công tác tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q. Trong khoảng thời gian từ ngày 14/01/2016 đến ngày 26/5/2017, do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, Võ Thị L đã nói dối những người thân, quen và đồng nghiệp là cần tiền để làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng và mua bán thuốc chữa bệnh để họ tin tưởng, cho L vay tiền. Khi nhận tiền của người bị hại, L viết giấy mượn tiền giao cho họ. Ban đầu, L vay, mượn với số tiền tuỳ theo khả năng của người bị hại; đồng thời trả tiền gốc và lãi đúng thời hạn. Càng về sau, Liểu càng vay mượn của nhiều người với số tiền càng lớn. Số tiền vay, mượn được, L sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân, không sử dụng vào việc đáo hạn ngân hàng và mua bán thuốc chữa bệnh như đã nói với những người cho vay tiền. Để giữ uy tín và tiếp tục vay mượn được tiền, Liểu vay của người này trả cho người khác. Khi vay lại thì L lấy lại các giấy mượn tiền cũ và viết lại giấy mượn tiền mới. Trên cơ sở đối chiếu số tiền L vay và trả, sao kê tài khoản ngân hàng của Võ Thị L và những người bị hại, xác định tổng số tiền Võ Thị L đã vay rồi chiếm đoạt của 10 người bị hại tổng cộng số tiền 8.519.000.000 đồng (tám tỷ năm trăm mười chín triệu đồng). Cụ thể như sau:

  1. Vay của bà Lư Thị Minh C số tiền 1.530.000.000 đồng.
  2. Vay của bà Trần Thị Kim S1 tiền 350.000.000 đồng.
  3. Vay của bà Nguyễn Thị Lệ T2 số tiền 485.000.000 đồng.
  4. Vay của bà Lê Thị L1 số tiền 2.820.000.000 đồng.
  5. Vay của bà Nguyễn Thị Thu H1 số tiền 220.000.000 đồng.
  6. Vay của bà Trần Thị Kim T3 số tiền 1.164.000.000 đồng.
  7. Vay của bà Nguyễn Thị D số tiền 305.000.000 đồng.
  8. Vay của bà Võ Thị L2 số tiền 215.000.000 đồng.
  9. Vay của bà Nguyễn Thị N số tiền 450.000.000 đồng.
  10. Vay của ông Nguyễn Hoàng L3 số tiền 980.000.000 đồng.

Đến tháng 5/2017, số tiền L đã vay của những người bị hại để sử dụng vào mục đích cá nhân như nêu trên ngày càng lớn, L không thể tiếp tục vay thêm tiền được nữa. Một số người bị hại liên tục đòi tiền và đến nơi làm việc của L để gây áp lực, buộc L phải trả tiên. Ngày 25/5/2017, L phải bỏ việc tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q, trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh và cắt đứt liên lạc với những người đã cho L vay tiền nên 07 người gồm Lư Thị Minh C, Trần Thị K, Nguyễn Thị Lệ T2, Lê Thị L1, Nguyễn Thị Thu H1, Trần Thị Kim T3, Nguyễn Thị D tố cáo hành vi của L đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q. Sau khi tiếp nhận tố giác tội phạm nêu trên, Cơ quan CSĐT (PC03) Công an tỉnh Q đã triệu tập Võ Thị L để làm việc. Sau khi làm việc với Cơ quan CSĐT (PC03) Công an tỉnh Q vào ngày 20/6/2017, L tiếp tục bỏ trốn.

Lúc 11 giờ 00 ngày 14/01/2024, tại Công an xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Cơ quan CSĐT (PC03) Công an tỉnh Q thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Võ Thị L. Quá trình giữ người trong trường hợp khẩn cấp đã tạm giữ của L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ.

Ngày 20/6/2017, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã tạm giữ từ Võ Thị L: 14 tờ giấy mượn tiền, 01 tờ giấy ghi nợ tiền và trả tiền, 12 tờ giấy theo dõi mượn tiền và trả tiền, 02 cuốn sổ ghi chép theo dõi mượn tiền và trả tiền.

Tạm giữ của bà Nguyễn Thị N: 02 tờ Giấy mượn tiền.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q đã tạm giữ 22 tờ Giấy mượn tiền gồm: 02 Giấy mượn tiền với bà Lư Thị Minh C; 02 Giấy mượn tiền với bà Trần Thị K; 01 Giấy mượn tiền với bà Trần Thị Kim T3; 05 Giấy mượn tiền với bà Nguyễn Thị Lệ T2; 06 Giấy mượn tiền với bà Nguyễn Thị Thu H1; 06 Giấy mượn tiền với bà Lê Thị L1.

Tại Kết luận giám định số 02/KLGĐ-PC54 ngày 22/01/2018 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận: Chữ ký, chữ viết đứng tên Võ Thị L trên 22 “Giấy mượn tiền” trưng cầu giám định là của Võ Thị L.

Về trách nhiệm dân sự: Võ Thị L đã tác động gia đình tự nguyện giao nộp số tiền 35.000.000 đồng cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q để khắc phục một phần hậu quả.

- Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Hoàng L3, bà Nguyễn Thị Thu H1, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị L4, người đại diện cho bà Lê Thị L1 (đã chết) là ông Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền đã chiếm đoạt tổng cộng là 4.410.000.000 đồng.

- Các bà Lư Thị Minh C, Trần Thị Kim T3, Nguyễn Thị Lệ T2, Trần Thị K không yêu cầu bị cáo L5 trả lại số tiền đã chiếm đoạt.

Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKSQN-P2 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Võ Thị L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Võ Thị L, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Võ Thị L từ 13 năm đến 14 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Võ Thị L phải trả cho bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Hoàng L3, bà Nguyễn Thị Thu H1, bà Nguyễn Thị D, bà Võ Thị L2, bà Lê Thị L1 số tiền L đã chiếm đoạt tổng cộng là 4.410.000.000 đồng.

- Đối với các bà Lư Thị Minh C, Trần Thị Kim T3, Nguyễn Thị Lệ T2, Trần Thị K không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đề cập.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Võ Thị L trình bày luận cứ: Thống nhất về tội danh, điều luật, khung hình phạt áp dụng mà Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà. Bị cáo Võ Thị L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình nộp một phần tiền để khắc phục hậu quả; hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn; tại phiên toà một số bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị L thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Võ Thị L khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2016 đến tháng 5/2017, do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, bị cáo Võ Thị L đã đưa ra thông tin gian dối để vay tiền của nhiều người với lý do là làm dịch vụ đáo hạn ngân hàng, mua bán thuốc chữa bệnh. Các bị hại đã tin tưởng vào những thông tin do L đưa ra nên đã cho L vay tiền. Sau khi vay được tiền bị cáo không sử dụng vào mục đích như đã đưa ra khi vay mà sử dụng vào việc trả nợ và tiêu xài cá nhân. Khi không thể trả lại được tiền vay cho các bị hại, L đã bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q bắt giữ. Tổng cộng L đã chiếm đoạt của 10 bị hại tổng số tiền 8.519.000.000 đồng (tám tỷ năm trăm mười chín triệu đồng), cụ thể gồm: bà Lư Thị Minh C số tiền 1.530.000.000 đồng, bà Trần Thị Kim S1 tiền 350.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Lệ T2 số tiền 485.000.000 đồng, bà Lê Thị L1 số tiền 2.820.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu H1 số tiền 220.000.000 đồng, bà Trần Thị Kim T3 số tiền 1.164.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị D số tiền 305.000.000 đồng, bà Võ Thị L2 số tiền 215.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị N số tiền 450.000.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng L3 số tiền 980.000.000 đồng.

Hành vi và hậu quả nêu trên của bị cáo Võ Thị L đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo tình tiết định khung hình phạt “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bản Cáo trạng số: 85/CT-VKSQN-P2 ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp tài sản của người khác đều bị pháp luật trừng trị và dư luận xã hội lên án. Bị cáo Võ Thị L hiểu, nhận thức được điều đó, song do tư lợi, ý thức coi thường pháp luật, bị cáo đã đưa ra thông tin gian dối để các bị hại tin tưởng cho vay tiền nhiều lần để chiếm đoạt. Hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở về hữu tài sản của các bị hại, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo trong vụ án thì thấy:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Võ Thị L lừa đảo chiếm đoạt tiền nhiều lần của 10 bị hại, mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Võ Thị L khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội; đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại để khắc phục hậu quả; tại phiên toà một số bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo chưa có tiền án tiền sự; vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về loại hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Võ Thị L đã chiếm đoạt của 10 bị hại tổng số tiền 8.519.000.000 đồng; các bị hại Lư Thị Minh C, Trần Thị Kim T3, Nguyễn Thị Lệ T2, Trần Thị K không yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền đã chiếm đoạt nên không xem xét giải quyết. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị hại còn lại yêu cầu bị cáo Võ Thị L trả lại số tiền đã chiếm đoạt, cụ thể như sau: Bà Nguyễn Thị N số tiền 450.000.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng L3 số tiền 400.000.000 đồng, bà Võ Thị L2 số tiền 215.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu H1 số tiền 220.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị D số tiền 305.000.000 đồng, bà Võ Thị L2 số tiền 215.000.000 đồng, bà Lê Thị L1 số tiền 2.820.000.000 đồng (do bà Lê Thị L1 đã chết nên những người đại diện hợp pháp cho bà Lê Thị L1 là ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ được nhận số tiền này). Xét thấy, yêu cầu của các bị hại là có căn cứ pháp luật, tại phiên toà bị cáo đồng ý bồi thường số tiền mà các bị hại đã yêu cầu trên nên ghi nhận sự thoả thuận này, buộc bị cáo Võ Thị L phải có nghĩa vụ trả lại cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Trong quá trình điều tra đã tạm giữ của bị cáo L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ; xét không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo Võ Thị L nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo L đã nộp số tiền 35.000.000 đồng cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q nên tiếp tục tạm giữ số tiền này để để đảm bảo thi hành án của bị cáo L5.

[8] Các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Quá trình điều tra, Võ Thị L và những bị hại khai nhận việc cho L vay tiền có tính lãi suất, cụ thể: Bà Nguyễn Thị D cho vay với lãi suất 03%/tháng; các bà Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Lệ T2, Lê Thị L1, Võ Thị L2, Nguyễn Thị N và Trần Thị K cho vay với lãi suất 06%/tháng; bà Lư Thị Minh C, ông Nguyễn Hoàng L3 cho vay với lãi suất 04%/tháng; bà Nguyễn Thị Kim T4 cho vay với lãi suất 1,5%/tháng. Việc tính lãi suất các bên chỉ thoả thuận bằng miệng với nhau và không xác định được số tiền lãi đã trả cụ thể là bao nhiêu. Riêng đối với số tiền 8.519.000.000 đồng mà L vay và chiếm đoạt của các bị hại thì L chưa trả tiền gốc và tiền lãi cho những người bị hại; lãi suất mà các bên thoả thuận khi vay không gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Do vậy, hành vi của các bị hại Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Thị Lệ T2, Lê Thị L1, Võ Thị L2, Nguyễn Thị N, Trần Thị K, Nguyễn Thị Kim T4, Lư Thị Minh C, Nguyễn Hoàng L3 không cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” nên không đề cập xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo Võ Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  2. Tuyên bố bị cáo Võ Thị L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Võ Thị L 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 14/01/2024).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các Điều 585, 587, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  4. Buộc bị cáo Võ Thị L có nghĩa vụ trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại tổng cộng là 4.410.000.000 (bốn tỷ bốn trăm mười triệu) đồng, cụ thể như sau:

    • - Trả cho bà Nguyễn Thị N số tiền 450.000.000 (bốn trăm năm mươi triệu) đồng.
    • - Trả cho ông Nguyễn Hoàng L3 số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng.
    • - Trả cho bà Nguyễn Thị Thu H1 số tiền 220.000.000 (hai trăm hai mươi triệu) đồng.
    • - Trả cho bà Nguyễn Thị D số tiền 305.000.000 (ba trăm lẻ năm triệu) đồng.
    • - Trả cho bà Võ Thị L2 số tiền 215.000.000 (hai trăm mười lăm triệu) đồng.
    • - Trả cho bà Lê Thị L1 số tiền 2.820.000.000 (hai tỷ tám trăm hai mươi triệu) đồng. Do bà L1 đã chết nên những người đại diện hợp pháp cho bà Lê Thị L1 là ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn Đ được nhận số tiền này.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Võ Thị L không trả số tiền trên thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

  5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
    • - Trả lại cho bị cáo Võ Thị L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo L (vật chứng này hiện nay đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/8/2024).
    • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng mà gia đình bị cáo L đã nộp khắc phục hậu quả để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án cho bị cáo L5, số tiền này Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC03) Công an tỉnh Q đang tạm gửi vào tài khoản tạm giữ số 39490904639300000 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Q theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 23/4/2024.
  6. Về án phí: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
  7. Buộc bị cáo Võ Thị L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 112.410.000 (một trăm mười hai triệu bốn trăm mười nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/11/2024). Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các cơ quan tiến hành tố tụng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Phòng HSNV Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, Tòa HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Tấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger