Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Kim Tiến

Ông Nguyễn Thanh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Đức H, Ngày, tháng, năm sinh: 20/12/1964.

Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Nơi sinh: tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Số A, Trần Thị D, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Trần Đức H1, sinh năm 1940 (chết); Họ và tên mẹ: Tăng Thị Đ, sinh năm 1940 (sống); A, chị, em ruột: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1966, nhỏ nhất sinh năm 1977; Vợ: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1967; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền sự, tiền án: Không. Bị can Trần Đức H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/12/2023 đến ngày 14/4/2024 tại phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thùy T1, sinh năm 2005.

Địa chỉ: Tổ G, Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (đã chết).

Người đại diện theo pháp luật:

  • - Lại Thị T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ G, Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • - Nguyễn Văn H2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ G, Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
  • - Nguyễn Khả H3, sinh ngày 31/3/2023. Địa chỉ: Tổ G, Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn H2, đại diện theo pháp luật cho cháu H3 là: bà Lại Thị T2, sinh năm 1970. Địa chỉ: Tổ G, Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Theo giấy ủy quyền ngày 21/8/2023.

Người liên quan có nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Phạm Hữu G, sinh năm 1952. Địa chỉ: Số B P, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Phạm Thanh L, sinh năm 1978. Địa chỉ: P, Phường F, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Theo giấy ủy quyền ngày 14/9/2023.

  • - Công ty cổ phần N.

Địa chỉ trụ ở: Đường số B, Cụm C, xã L, thành phố T, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Việt C – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thế D1, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Số B Khu phố I, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người chứng kiến: Nguyễn Hữu M, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 15/8/2023, Trần Đức H có giấy phép lái xe ô tô hạng C có giá trị sử dụng đến ngày 26/5/2025, điều khiển xe ô tô tải biển số 51E-200.80 lưu thông trên đường số A Khu Công nghiệp H theo hướng từ Khu công nghiệp đi ra hướng đường tỉnh 824. Khi đến giao lộ giữa đường số A và đường T thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, H điều khiển xe ô tô tải biển số 51E-200.80 chuyển hướng sang phải để vào đường tỉnh 824 đi về hướng cầu N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh khi chuyển hướng thì phần khung cản bảo vệ thân xe bên phải và bánh xe trước bên phải xe ô tô tải biển số 51E-200.80 do H điều khiển va chạm vào phần thân xe bên trái và cụm đèn phía sau xe mô tô biển số 67B1-527.00 do Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 05 tháng 3 năm 2005, nơi cư trú: Thôn H, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều bên phải. Hậu quả: Nguyễn Thị Thùy T1 tử vong tại hiện trường.

Vật chứng tạm giữ:

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại C110, màu xanh, số máy: VTTJL1P52FMHR004865, số khung: VTTWCHOJ4UM004865, biển số 67B1-527.00 và 01 (một) xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, màu trắng, số máy: WD61595E160917001737, số khung: LZZ5BLND2GN135572, biển số 51E-200.80.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định như sau:

Hiện trường còn nguyên vẹn, nạn nhân nữ tử vong tại hiện trường.

Điều kiện thời tiết, khí hậu, ánh sáng: Trời sáng, không mưa, mặt đường khô ráo.

Đoạn đường xảy ra tai nạn là trên đường T khu vực giao nhau với đường số A Khu Công nghiệp H, mặt đường nhựa bằng phẳng, mặt lộ nhựa khu vực xảy ra tại nạn rộng 14m.

Chọn điểm mốc cố định là trụ điện số 01 nằm bên ngoài phần đường xe chạy thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.

Chọn lề đường chuẩn là lề đường bên phải theo hướng đường số 01 ra hướng đường tỉnh 824 rẽ phải về Cầu N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đánh dấu (1) Là vị trí xe mô tô biển số 67B1-527.00: nằm ngã nghiêng sang trái, đầu xe chếch vào cổng khu công nghiệp, tâm trục trước và tâm trục sau đo vào lề chuẩn là 1,8m và 1m

Đánh dấu (2) Là vị trí vết phanh dài 3,5m, rộng 0,5m in đậm trên mặt lộ nhựa, đầu vết phanh đo vào lề chuẩn là 4,4m, cuối phanh nằm dưới lốp vỏ trục bánh xe sau bên trái.

Đánh dấu (3) Là vị trí nạn nhân nữ nằm úp mặt dưới đường nhựa, đỉnh đầu nạn nhân đo vào lề chuẩn là 2,3m, giữa 02 gót chân đo vào lề chuẩn là 3,4m.

Đánh dấu (4) Là vị trí vết phanh dài 0,5m, rộng 0,2m in đậm trên mặt lộ nhựa, đầu vết phanh đo vào lề chuẩn là 2,8m, cuối phanh nằm dưới lốp vỏ trục bánh xe sau bên phải.

Đánh dấu (5) Là vị trí xe ô tô tải biển số 51E-200.80 đỗ tự nhiên trên đường, đầu xe hướng từ đường số 1 ra đường T đầu xe chếch về hướng Cầu N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, tâm trục 1 bên phải và tâm trục 3 bên phải đo vào lề chuẩn là 4,4m và 2,5m.

Đầu vết phanh (2) đo đo đến giữa 02 gót chân nạn nhân (3) là 1,5m, đỉnh đầu nạn nhân đo đến đầu vết phanh (4) là 0,5m, đỉnh đầu nạn nhân đo đến tâm trục bánh xe trước xe (1) là 1,4m.

T3 trục bánh trước xe (1) đo đến điểm mốc cố định là 7,1m.

Kết quả khám phương tiện xác định như sau:

Xe ô tô tải biển số 51E-200.80:

Lốp vỏ trục bánh xe trước bên phải ở mặt ngoài vỏ có 01 vết xước màu đen dài 0,5m.

Trầy xước ốp mủ nhựa màu đen tại nơi lên xuống xe, dè chắn bùn bên phải.

Khung cản bảo vệ thân xe bên phải có vết trầy xước lau bụi dài 0,3m hướng từ trước ra sau.

Lốp vỏ trục 3 bên phải ở mặt tiếp xúc với mặt đường có bám mô máu.

Xe mô tô biển số 67B1-527.00:

Đầu tay cầm điều khiển bên trái bị mài mòn cao su màu đen kích thước 0,04m x 0,02m;

Gác chân phía sau bên trái bị gãy đứt rời khỏi thân xe.

Hư hỏng cụm đèn tín hiệu phía sau;

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 165/KLGÐ-TTPYTT ngày 06/9/2023 của Trung tâm P kết luận:

“Dấu hiệu chính qua giám định như sau: Sây sát mặt, biến dạng đầu mặt, vỡ hộp sọ vùng trán, khoan hộp sọ nhiều máu đỏ, gãy xương sườn phải, sây sát bụng, sây sát cẳng tay phải, bàn tay trái, sây sát bàn chân trái.

Nguyên nhân tử vong của Nguyễn Thị Thùy T1 do chấn thương sọ não nặng”.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đức H trình bày: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố. Bị cáo thừa nhận do hành vi chạy xe thiếu quan sát khi chuyển hướng của bị cáo khi tham gia giao thông nên dẫn đến tai nạn. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, ông Phạm Thanh L là đại diện ủy quyền của ông G trình bày: Xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, màu trắng, số máy: WD61595E160917001737, số khung: LZZ5BLND2GN135572, biển số 51E-200.80 là tài sản của Công ty Cổ phần N đang thuê của Phạm Hữu G. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại Công ty Cổ phần N nên ông không ý kiến hay yêu cầu gì. Về trách nhiệm dân sự đại diện ông Phạm Hữu G đã cùng bị cáo H bồi thường tổng cộng 250.000.000đồng (bị cáo bỏ số tiền 125.000.000đồng). Đối với số tiền bên ông G bỏ ra là 125.000.000đồng ông không có ý kiến gì trong vụ án này. Sau nay ông sẽ cùng bị cáo HCông ty Cổ phần N tính toán sau khi tất toán hợp đồng thuê xe ô tô.

Tại phiên tòa, ông Trần Thế D1 trình bày: Ông là đại diện Công ty Cổ phần N. Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, màu trắng, số máy: WD61595E160917001737, số khung: LZZ5BLND2GN135572, biển số 51E-200.80 là tài sản của Công ty Cổ phần N đang thuê của Phạm Hữu G. Phía công ty không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án này. Về phần trách nhiệm dân sự bị cáo H và bên ông G bồi thường tổng cộng 250.000.000đồng. Sau nay bị cáo H, ông GCông ty Cổ phần N tính toán sau khi tất toán hợp đồng thuê xe ô tô.

Tại Cáo trạng số 62/CT-VKSĐH ngày 14 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Đức H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự và Căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018: Tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; xử phạt bị cáo Trần Đức H mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm đến 03 năm tù.

Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, màu trắng, số máy: WD61595E160917001737, số khung: LZZ5BLND2GN135572, biển số 51E-200.80 là tài sản của Công ty Cổ phần N đang thuê của Phạm Hữu G để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Đào Văn K là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần N là phù hợp nên không đề cập xem xét.
  • - Đối với xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda, loại C110, màu xanh, số máy: VTTJL1P52FMHR004865, số khung: VTTWCHOJ4UM004865, biển số 67B1-527.00 là tài sản của nạn nhân Nguyễn Thị Thùy T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Lại Thị T2 là đại diện theo pháp luật của nạn nhân Nguyễn Thị Thùy T1 nên không đề cập xem xét.
  • - Phần trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị Thùy T1Lại Thị T2 đã nhận đủ tiền bồi thường 250.000.000đồng không yêu cầu gì thêm về phần dân sự nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đức H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản ảnh hiện trường, bản Kết luận giám định tử thi số 165/KLGÐ-TTPYTT ngày 06/9/2023 của Trung tâm P và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 15/8/2023, tại giao lộ giữa đường số A và đường T thuộc ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An, bị cáo Trần Đức H có giấy phép lái xe hạng C có giá trị sử dụng đến ngày 26/5/2025, có hành vi điều khiển xe ô tô tải biển số 51E-200.85 chuyển hướng sang phải không chú ý quan sát nên phần khung cản bảo vệ thân xe bên phải và bánh xe trước bên phải xe ô tô tải biển số 51E-200.80 do H điều khiển va chạm vào phần thân xe bên trái và cụm đèn phía sau xe mô tô biển số 67B1-527.00 do Nguyễn Thị Thùy T1 điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều bên phải. Hậu quả Nguyễn Thị Thùy T1 tử vong tại hiện trường.

Hành vi chuyển hướng xe sang phải không chú ý quan sát đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi này của bị cáo Trần Đức H đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Đức H theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, cụ thể là xâm phạm an toàn giao thông.

Bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo các quy định về luật giao thông đường bộ. Thế nhưng hành vi không chú ý quan sát khi chuyển hướng xe của bị cáo là nguyên nhân gây ra tai nạn giao thông, hậu quả làm cho bà Nguyễn Thị Thùy T1 tử vong. Ngoài ra, hiện nay tình trạng vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ đang là nỗi bức xúc, gây tâm lý bất an khi tham gia giao thông trong quần chúng nhân dân nói chung và gây mất mát trong gia đình của các bị hại nói riêng. Đặc biệt hiện nay Chính phủ đang tăng cường bảo đảm trật tự, an toàn giao thông theo Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 05/4/2022. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần Đức H phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có ý thức ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo có cha là ông Trần Đức H4 có công với cách mạng (huân chương kháng chiến hạng ba), bị cáo được đại diện bị hại làm đơn bãi nại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

[4]. Căn cứ mục [2] và [3] xét thấy: Bị cáo Trần Đức H có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như vừa nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; có nơi cư trú rõ ràng, việc làm ổn định và là lao động chủ yếu nuôi sống gia đình, có đơn xác nhận hạnh kiểm của chính quyền địa phương (có xác nhận của chính quyền địa phương) nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo Trần Đức H đi chấp hành án phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo theo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Từ phân tích [2], [3] và [4], xét theo lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và mức hình phạt đối với bị cáo Trần Đức H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Trần Đức H trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Đức H là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự :

  • - Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, màu trắng, số máy: WD61595E160917001737, số khung: LZZ5BLND2GN135572, biển số 51E-200.80 là tài sản của Công ty cổ phần N đang thuê của Phạm Hữu G để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho đại diện Công ty cổ phần N là phù hợp nên không đề cập xem xét.
  • - Đối với xe mô tô mô tô nhãn hiệu Honda, loại C110, màu xanh, số máy: VTTJL1P52FMHR004865, số khung: VTTWCHOJ4UM004865, biển số 67B1-527.00 là tài sản của nạn nhân Nguyễn Thị Thùy T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Lại Thị T2 là đại diện theo pháp luật của nạn nhân Nguyễn Thị Thùy T1 là phù hợp nên không đề cập xem xét.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thị Thùy T1Lại Thị T2 trình bày trong Giấy giao nhận tiền ngày 25/7/2023, Biên bản giải quyết tai nạn giao thông và trong Đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cùng ngày 27/9/2023 thể hiện bà T2 đã nhận tổng cộng số tiền bồi thường thiệt hại là 250.000.000 đồng. Ngoài ra, Lại Thị T2 không yêu cầu gì thêm về phần dân sự, cũng không có ý kiến gì khác nên không đề cập xem xét.

[9]. Đối với số tiền 125.000.000 đồng ông Phạm Hữu G (do ông L đại diện) đã tự nguyện bồi thường cho bị hại, ông Phạm Hữu G không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10]. Đới với xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại C110, màu xanh, số máy: VTTJL1P52FMHR004865, số khung: VTTWCHOJ4UM004865, biển số 67B1-527.00 là tài sản của nạn nhân Nguyễn Thị Thùy T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Lại Thị T2, hiện đại diện bị hại đã nhận lại tài sản không có ý kiến, yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11]. Đối với xe ô tô tải nhãn hiệu HOWO, màu trắng, số máy: WD61595E160917001737, số khung: LZZ5BLND2GN135572, biển số 51E-200.80 là tài sản của Công ty Cổ phần N đang thuê của Phạm Hữu G để sử dụng. Tại phiên tòa ông L (đại diện ông G) và đại diện Công ty Cổ phần N không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[12]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Đức H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Đức H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018.

Xử phạt: Bị cáo Trần Đức H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Trần Đức H về Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trần Đức H có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Trần Đức H.

Trường hợp bị cáo Trần Đức H thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

2. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Đức H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.

3. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu VP; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 83/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đức H phạm tội vi phạm quy định vè tham gia giao thông đưòng bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger