Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/HS-PT

Ngày 24/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hằng
Các Thẩm phán: Ông Bùi Duy Thạch
Bà Nguyễn Minh Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 69/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Tổ I H, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số C D, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Trịnh Thị Í (đều đã chết); có chồng là Hoàng Tiến V (đã chết) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 26/12/2023; có mặt.

- Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án đồng thời là người làm chứng: Anh Hoàng Trường L, sinh ngày 20/01/2008; nơi ở: Số C phố D, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của anh Hoàng Trường L: Chị Lê Thị H1 (chị gái của Hoàng Trường L); sinh năm 1998; nơi ở: Số E Khu tập thể Q, phường V, Quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/8/2023 Nguyễn Thị H cùng con trai là Hoàng Trường L đi từ Trung tâm thương mại A1 ra bãi gửi xe C21, cổng C của Trung tâm thương mại lấy xe để đi về. H đưa cho L cầm hộ 01 túi xách màu đen nhãn hiệu KALEEA, ngồi phía sau xe. Khi lấy xe H nhìn thấy trong hộc để đồ bên trái xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển kiểm soát 17B6-575.19 của chị Vũ Thị H2 dựng sát cạnh bên trái xe mô tô của H có 01 điện thoại di động Iphone 14 màu xanh dương. Lợi dụng lúc không ai để ý, H ngồi lên xe dùng tay trái với lấy điện thoại của chị H2 đưa cho L đang ngồi phía sau, bảo cất điện thoại vào trong túi xách nhãn hiệu KALEEA. Sau đó H bảo L tháo sim điện thoại của chị H2 ra. Khoảng 10 giờ ngày 10/8/2023, H đem điện thoại của chị H2 đến cửa hàng sửa điện thoại của anh Đỗ Văn H3 ở số 12 Chùa H, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng và để điện thoại lại cửa hàng nhờ anh H3 mở khóa điện thoại.

Sau khi phát hiện bị mất điện thoại, chị H2 gọi đến số điện thoại của mình thấy có chuông nhưng bị từ chối, sau đó không liên lạc được. Chị H2 báo với lực lượng an ninh của Trung tâm thương mại A1. Lực lượng an ninh kiểm tra hệ thống Camera thì xác định có hai người đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 15B2-718.35 lấy điện thoại của chị H2. Khoảng 22 giờ ngày 10/8/2023, H cùng L quay lại Trung tâm thương mại để mua sắm thì bị lực lượng an ninh phối hợp với Công an phường K, Quận L yêu cầu về trụ sở Công an phường để xác minh, làm rõ.

Ngày 11/8/2023, Nguyễn Thị H đến cửa hàng sửa chữa điện thoại của anh Đỗ Văn H3 lấy lại chiếc điện thoại nêu trên, giao nộp cho Công an phường K cùng 01 túi xách màu đen nhãn hiệu KALEEA, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead biển kiểm soát 15B2-718.35. Hoàng Trường L giao nộp 01 sim điện thoại Viettel được tháo ra từ điện thoại của chị H2, 01 bộ quần áo cộc tay màu trắng, họa tiết màu xanh là trang phục của H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 12/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận L, thành phố Hải Phòng kết luận: Giá trị của 01 điện thoại đã qua sử dụng nhãn hiệu Iphone 14, màu xanh, dung lượng 128Gb, Imei 355041884031399, 355041883170024 đeo ốp kẻ vuông màu be là 15.700.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Thị H không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của chị Vũ Thị H2, chỉ khai nhận: Khi H dắt xe mô tô của mình ra phía ngoài hàng rào ngăn cách giữa bãi gửi xe và lối đi chung, định điều khiển xe mô tô chở Hoàng Trường L đi về thì nhìn thấy 01 điện thoại phone 14 vỏ ốp màu vàng be nằm ở dưới đất phía sau bên trái cách chân chống xe mô tô của chị Vũ Thị H2 khoảng 7-8cm nên H dừng xe lại song song với xe mô tô của chị H2. H vẫn ngồi trên xe dùng tay phải với qua hàng rào nhặt chiếc điện thoại đặt lên trên hàng hóa để tại võng xe rồi chở L về nhà. Sau đó H bảo L tháo sim điện thoại của chị H2 ra lắp vào điện thoại của H thì biết chủ điện thoại có tài khoản Zalo là “Hương hý”, nhưng H không nhắn tin thông báo cho chị H2. Lý do chưa liên lạc với chị H2 để trả lại điện thoại là do H bận việc cá nhân. Trưa ngày 10/8/2023, H mang điện thoại của chị H2 đến của hàng sửa chữa điện thoại của anh Đỗ Văn H3 ở số 12 Chùa H, phường H, Quận L, thành phố Hải Phòng thuê mở khóa lấy thông tin để liên lạc trả lại cho chị H2. Đến tối ngày 10/8/2023, H chở L đến Trung tâm thương mại để mua sắm thì bị lực lượng an ninh đưa về trụ sở Công an phường K làm việc. Sau đó H đến cửa hàng sửa điện thoại của anh H3 lấy điện thoại giao nộp cho cơ quan công an. H không lấy điện thoại từ hộc đồ trên xe mô tô của chị H2 mà nhặt được điện thoại dưới đất trong bãi gửi xe cổng C của Trung tâm thương mại.

Tại Kết luận giám định số 748/KL-KTHS ngày 02/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận về đoạn ghi hình thu giữ từ camera an ninh của Trung tâm thương mại A1: 02 tập tin lưu trong USB lưu trữ dữ liệu hình ảnh video liên quan đến vụ việc trộm cắp điện thoại vào ngày 08/8/2023 không có dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa.

Tại Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSLC ngày 05/3/2024, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân đã truy tố Nguyễn Thị H về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Thị H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về việc xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Đối với Hoàng Trường L là người cầm điện thoại sau khi H trộm cắp của chị Vũ Thị H2 và anh Đỗ Văn H3 là người cầm điện thoại của chị Vũ Thị H2 để mở khóa. Do Hoàng Trường L chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và anh Đỗ Văn H3 không biết điện thoại do H phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo kêu oan.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Thị H đã có hành vi Trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 18 tháng tù về tội danh nêu trên là có căn cứ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập hợp pháp, phù hợp với nhau, đầy đủ giá trị chứng minh nội dung như Bản án sơ thẩm đã kết luận, bị cáo Nguyễn Thị H không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bị cáo không phạm tội, nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn nhiều lỗi chính tả, xác định thiếu tư cách người tham gia tố tụng, nhất là việc không nhận định để áp dụng với bị cáo tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội" theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là còn thiếu sót. Tuy nhiên, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo và xét mức hình phạt cũng đủ tính răn đe, không quá nhẹ nên cần y án sơ thẩm về hình phạt nhưng cần rút kinh nghiệm với cấp sơ thẩm. Từ phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo của bị cáo Nguyễn Thị H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Bị cáo phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09/4/2024, bị cáo Nguyễn Thị H có đơn kháng cáo, Viện Kiểm sát không kháng nghị. Kháng cáo bị cáo Nguyễn Thị H trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

- Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo quanh co không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào hệ thống tài liệu, chứng cứ sau đây để đánh giá:

[2] Bị hại là chị Vũ Thị H2 khai: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 08/8/2023, chị H2 điều khiển xe mô tô Honda Vision màu đen, biển kiểm soát 17B6-575.19 chở bạn là Phan Thị Thanh N sinh năm 2001, trú tại thôn H, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng đến Trung tâm thương mại A1, Lê C để mua sắm. Chị H2 gửi xe mô tô tại bãi gửi xe C21, cổng C rồi cùng chị N vào bên trong Trung tâm thương mại. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, chị H2 phát hiện để quên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh dương tại hộc để đồ bên trái của xe mô tô nên quay lại bãi gửi xe để lấy điện thoại thì thấy điện thoại đã bị mất. Chị H2 lấy điện thoại của chị N để gọi đến số điện thoại của mình thấy vẫn có tín hiệu đổ chuông nhưng sau đó điện thoại tắt chuông báo bận. Sau đó chị H2 có gọi thêm nhiều cuộc nữa nhưng điện thoại báo tín hiệu thuê bao không liên lạc được, chị H2 đã sửa dụng mật khẩu I để khóa điện thoại từ xa rồi báo với lực lượng an ninh của Trung tâm thương mại. Ngày 09/8/2023, chị H2 đến công an phường K, Quận L trình báo sự việc.

[3] Chị Phan Thị Thanh N khai: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 08/8/2023, H2 rủ N đi đến Trung tâm thương mại A1, Lê C để mua sắm. H2 điều khiển xe môtô Honda Vision màu đen, mang biển số 17B6-575.19 đến đón, N quan sát thấy thấy H2 để 01 chiếc điện thoại Iphone 14 tại hộc để đồ bên trái của xe. N hỏi H2 lý do tại sao lại để điện thoại như vậy thì H2 nói là để dễ lấy điện thoại sử dụng ứng dụng Google Map do chưa thuộc đường ở thành phố Hải Phòng. Sau đó N và H2 mỗi người đi một xe môtô đến Trung tâm thương mại A1, H2 để xe môtô ở lán xe C21. Sau khi vào mua sắm, đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, ra quầy thu ngân thanh toán thì H2 nhớ ra H2 để quên điện thoại di động ở xe Honda Vision vẫn đang dựng ở lán xe C21. H2 đi một mình ra bãi gửi xe để tìm máy điện thoại. Khoảng 05 phút sau, H2 quay lại gặp N và nói điện thoại Iphone 14 đã bị mất. H2 mượn máy điện thoại của N để gọi điện vào số điện thoại 0967.643.xxx của H2 lắp trong máy Iphone 14 nhưng không ai nghe máy, chuông báo tín hiệu bận. H2 tiếp tục gọi nhiều cuộc điện thoại nhưng đều không liên lạc được. Sau đó H2 và N đi đến quầy thông tin Trung tâm thương mại A1 để báo về sự việc bị mất điện thoại và được nhân viên Trung tâm hướng dẫn đến trình báo tại trụ sở Công an phường K. Khi về nhà, N tiếp tục sử dụng điện thoại của mình để gọi vào số điện thoại của H2 nhưng chỉ thấy có tín hiệu đổ chuông không thấy ai nghe máy, sau đó thì máy báo không liên lạc được.

[4] Tại Biên bản ghi lời khai ban đầu của Hoàng Trường L (là con ruột của bị cáo) vào các ngày 10/8/2023, 11/8/2023 tại các Bút lục số 81, 85, 86, 87, 88 có nội dung thể hiện: “Vào khoảng 20 giờ ngày 08/8/2023, tôi cùng mẹ tôi là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975, trú tại: Số C D, phường D, L, Hải Phòng đi tham quan mua sắm tại Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày 08/8/2023 sau khi mua đồ xong tôi và mẹ tôi đi ra bãi gửi xe C thuộc Trung tâm thương mại A1, Hải Phòng để lấy xe mô tô ra về. Khi có mặt ở bãi gửi xe thì tôi thấy mẹ tôi có nhìn thấy chiếc điện thoại đang để trong hốc đồ bên trái của mô tô đỗ dựng bên trái xe của mẹ tôi. Tôi thấy mẹ tôi đã cúi người dùng tay trái để lấy chiếc điện thoại trên, rồi đưa điện thoại vừa lấy đưa cho tôi bảo tôi cất điện thoại vào trong túi xách của mẹ tôi mà trước đó khi đi mua sắm mẹ tôi đã đưa cho túi cho tôi cầm hộ... Trên đường đi từ Trung tâm thương mại A1 về nhà tôi có hỏi mẹ tôi tại sao lại lấy điện thoại thì mẹ tôi nói: “Mình không lấy thì người khác nhìn thấy điện thoại cũng lấy””.

[5] Các bản tự khai bản tường trình của Hoàng Trường L (là con ruột của bị cáo H) vào ngày 10/8/2023 tại các Bút lục số 96, 97, 98, 99, 100 có nội dung thể hiện: “Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/8/2023, sau khi mua sắm xong tôi và mẹ tôi có ra khu bãi đỗ xe của A để lấy xe. Địa chỉ của khu mua sắm tôi và mẹ tôi đi Aeon Mall L, Hải Phòng. Khi ra khu gửi xe, tôi đi trước, mẹ tôi đi sau. Khi mẹ tôi đi đến cạnh xe nhà tôi thì mẹ tôi có nhìn thấy một chiếc điện thoại để ở trong hốc xe phía tay trái ở chiếc xe bên cạnh. Khi mẹ tôi quan sát thấy không có ai, mẹ tôi liền dùng tay trái để lấy chiếc điện thoại, sau đó mẹ tôi bảo tôi cho chiếc điện thoại vào túi xách của mẹ tôi. Sau đó tôi và mẹ tôi trở về nhà. Trên đường đi tôi có hỏi mẹ tôi sao lại lấy chiếc điện thoại thì mẹ tôi bảo: “Mình không lấy thì người khác cũng sẽ lấy””.

[6] Các lời khai của ban đầu của L đều thể hiện: Sau khi lấy được điện thoại, có nhiều cuộc gọi đến nhưng H và L không nghe. H cố gắng thử mở khóa màn hình nhiều lần nhưng không được nên máy bị tạm khóa. Sau đó, H bảo L tháo sim điện thoại ra. H bảo L mang điện thoại ra cửa hàng mở khóa để dùng được thì dùng nhưng do L bận đi học nên không mang đi. Sau thời điểm nêu trên và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm L thay đổi lời khai, khai nhận: H nhặt được điện thoại ở dưới đất. Ban đầu L khai nhìn thấy H lấy điện thoại trong hộc để đồ bên trái xe Honda Vision và chỉ đúng vị trí H lấy điện thoại là do L suy nghĩ chưa thấu đáo. Tại phiên tòa, L trình bày do bị đồng chí công an cho xem Video và bị đánh nên sợ hãi, khai bừa, tuy nhiên không có tài liệu chứng minh L bị đánh đập, ép buộc.

[7] Quá trình lấy lời khai của Hoàng Trường L cũng như các bản tự khai của Hoàng Trường L thì đều được chính bị cáo Nguyễn Thị H và bà Vũ Thị Q – Chủ tịch hội Liên hiệp phụ nữ phường K tham gia với tư cách người giám hộ cho Hoàng Trường L; ngày 11/8/2023 có thêm Kiểm sát viên tham gia, được ghi âm, ghi hình đúng theo quy định.

[8] Tại Biên bản phân tích hình ảnh Camera ngày 11/8/2023 có trong hồ sơ tại Bút lục số 47 có sự tham gia của Nguyễn Thị H và Hoàng Trường L thể hiện: Hồi 21 giờ 26 phút 14 giây ngày 08/8/2023 tại bãi gửi xe Cổng C trung tâm thương mại A1, Lê C, Hải Phòng có 01 nam giới, mặc quần áo ngắn tay màu đen và 01 nữ giới mặc quần áo màu trắng in hình hoa (sau xác định là Hoàng Trường L, sinh năm: 2008 và Nguyễn Thị H, sinh năm: 1975, có căn cước lai lịch như trên) có đi đến khu vực để xe. Bà H nhìn thấy xe máy Vision màu đen (không nhớ biển số) bên cạnh, bà H dùng tay trái móc vào hốc xe máy và cầm 01 vật cho vào túi xách của bà H. Sau đó Hồng điều khiển xe máy chở L đi hướng cổng soát vé cổng C trung tâm thương mại A2 và đi về nhà.

[9] Tại Biên bản phân tích hình ảnh Camera ngày 11/8/2023 có trong hồ sơ tại Bút lục số 47 có sự tham gia của Nguyễn Thị H và Hoàng Trường L thì L trình bày: Hồi 21 giờ 26 phút 14 giây ngày 08/8/2023 tại bãi gửi xe Cổng C trung tâm thương mại A1, Lê C, Hải Phòng bà H và L có lấy xe máy. Bà H có nhìn thấy xe máy Vision màu đen (không nhớ biển số) bên cạnh, trong hốc xe có 01 điện thoại Iphone 14 màu xanh dương và dùng tay trái lấy điện thoại cho vào túi xách của bà H. Sau đó bà Hồng điều k xe máy chở L theo hướng cổng soát vé cổng C trung tâm thương mại A3 và đi về nhà.

[10] Tại Biên bản phân tích hình ảnh Camera ngày 11/8/2023 có trong hồ sơ tại Bút lục số 45 thể hiện: ... Từ 21h26’14” đến 21h27'30” ngày 08/8/2023 ghi lại hình ảnh tại lán xe C21 – bãi gửi xe Cổng C TTTM A4 có 01 nữ giới trung tuổi, mặc áo ngắn tay màu trắng có họa tiết hoa, quần đùi màu trắng họa tiết hoa (sau xác định là Nguyễn Thị H, sinh năm: 1975, ĐKTTT: Hòa Nghĩa, D, Hải Phòng) và 01 nam giới, mặc áo ngắn tay màu đen, quần đùi màu đen (sau xác định là Hoàng Trường L, sinh năm: 2008, ĐKTTT: 69 Hồ S, H, L, Hải Phòng) đi cùng nhau ra lấy xe ra về. Trong quá trình lấy xe, nữ giới (H) có đưa tay trái hướng về phía hốc bên trái xe màu đen bên cạnh lấy 01 đồ vật trong hốc xe cho vào túi xách của nữ giới (H) đang đeo rồi cùng nam giới (L) điều khiển xe ra về.

[11] Bị cáo H khai nhặt được chiếc điện thoại di động Iphone 14 của chị Vũ Thị H2 ở dưới đất, bên trái, sát chân chống chiếc xe máy nhãn hiệu Vision của chị H2 mà không có hành động lấy chiếc điện thoại từ hộc để đồ của xe máy. Tuy nhiên, tại Biên bản làm việc ngày 01/12/2023 cho kết quả: “...Nguyễn Thị H thực nghiệm theo vị trí góc quay của Camera an ninh tại bãi gửi xe Cổng C, Trung tâm thương mại A1 mà nhân viên an ninh của Trung tâm thương mại cung cấp cho cơ quan công an. Kết quả: Tại vị trí xe mô tô phù hợp với góc quay và hình ảnh Camera an ninh thì Nguyễn Thị H không thể thực hiện được hành động nhặt được chiếc điện thoại ở vị trí bên trái chân trống xe Honda Vision như Nguyễn Thị H đã khai báo".

[12] Anh Đỗ Văn H3, chủ cửa hàng điện thoại khai: Khoảng 10 giờ ngày 10/8/2023, Nguyễn Thị H mang 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 màu xanh dương, vỏ ốp bằng nhựa màu vàng be đến cửa hàng yêu cầu mở khóa màn hình. Anh H3 hỏi nguồn gốc điện thoại, H nói điện thoại của con H. Đến sáng ngày 11/8/2023, H quay lại cửa hàng để lấy lại điện thoại. Anh H3 không biết điện thoại trên do H trộm cắp.

[13] Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã công bố dữ liệu hình ảnh, Video lời khai của Hoàng Trường L tại cơ quan điều tra. Theo đó, L khai bình tĩnh, rõ ràng; không có việc ép cung, đánh đập Hoàng Trường L khi lấy lời khai. Quá trình lấy lời khai của Hoàng Trường L cũng như các bản tự khai của Hoàng Trường L đều được bị cáo Nguyễn Thị H (là mẹ đẻ) và bà Vũ Thị Q (Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ phường K, Quận L) làm người giám hộ cho Hoàng Trường L. Như vậy, Điều tra viên, các cán bộ điều tra thực hiện việc lấy lời khai của Hoàng Trường L đúng quy định pháp luật. Hoàng Trường L không có ý kiến gì về bản ghi hình lời khai ban đầu của mình tại cơ quan điều tra. Xét lời khai ban đầu của Hoàng Trường L được thu thập hợp pháp, hoàn toàn phù hợp với những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, hơn nữa L có quan hệ huyết thống mẹ - con với bị cáo, quá trình xác minh ghi lời khai và điều tra ban đầu, bị cáo được tại ngoại nên có điều kiện để tác động tới người làm chứng này, nên việc thay đổi lời khai của người làm chứng L không có cơ sở để chấp nhận.

[14] Từ những hệ thống chứng cứ trên đây, xét thấy: Mặc dù bị cáo Nguyễn Thị H không thừa nhận hành vi phạm tội và người làm chứng Hoàng Trường L thay đổi lời khai nhưng căn cứ lời khai của bị hại, các bản tự khai, bản tường trình ban đầu của Hoàng Trường L phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, biên bản ghi nhận việc Nguyễn Thị H không thể thực hiện lại hành vi như lời khai của chính bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác trong vụ án được thu thập một cách hợp pháp, đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/8/2023, tại khu vực bãi gửi xe số C21, cổng C, Trung tâm thương mại A1, Quận L, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thị H đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 đã qua sử dụng trị giá 15.700.000 đồng tại hộc để đồ bên trái xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 17B6-575.19 của chị Vũ Thị H2 dựng sát cạnh bên trái xe mô tô của Nguyễn Thị H. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[15] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thị H nhân thân không có tiền án, tiền sự.

[16] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[17] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[18] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 18 (Mười tám) tháng tù theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[19] Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị H không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh việc bị cáo không phạm tội.

[20] Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[21] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

[22] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Về những thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có thiếu sót như sau:

  • Chiếc xe máy của bị hại Vũ Thị H2 trong vụ án được xác định là Honda Vision, biển kiểm soát 17B6-575.19, tuy nhiên Bản án sơ thẩm lại xác định xe mô tô của bị hại là xe mô tô Honda Lead biển kiểm soát 15B2-718.35.
  • Tại mục [10] của bản án sơ thẩm đã nhận định về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong vụ án này, Tòa án sơ thẩm không phải giải quyết trách nhiệm dân sự nên không được nhận định bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  • Trong vụ án này, Hoàng Trường L biết bị cáo Nguyễn Thị H trộm cắp chiếc điện thoại di động của bị hại Vũ Thị H2 và chính Hoàng Trường L là người cầm điện thoại di động này, cất giấu đi sau khi H chiếm đoạt được; chính L tháo sim từ chiếc điện thoại này. Theo quy định của pháp luật thì hành vi của Hoàng Trường L có dấu hiệu của tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tuy nhiên, do Hoàng Trường L dưới 18 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này nên không bị xử lý hình sự là do chính sách hình sự nhân đạo của nhà nước ta nhưng cần xác định Hoàng Trường L vừa là người làm chứng, vừa là người liên quan đến vụ án mới phù hợp với quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, bị cáo H đã tác động tích cực, lôi kéo Hoàng Trường L thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do H trộm cắp được nên cần xác định bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội" theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự mới là đúng quy định cuả pháp luật. Tuy nhiên, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo và xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H phù hợp với pháp luật, đủ tính răn đe. Vì vậy, để ổn định bản án, không áp dụng thêm tình tiết tăng nặng đối với bị cáo H; có thể giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt nhưng cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm, tránh vi phạm tương tự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
    • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Thị H tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1-TANDTC;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - TAND Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 83/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự phúc thẩm xét xử về tội "Trộm cắp tài sản" do có kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger