TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 83/2024/HSPT Ngày 30-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng
Các thẩm phán: Ông Chu Tuấn Vương
Bà Nguyễn Thị Minh Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2024/HSPT ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Thị T do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Bị cáo, bị hại có kháng cáo:
Bị cáo: Phạm Thị T, sinh ngày 27/8/1983 tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Trung B (đã chết) và bà: Phạm Thị H; có chồng: Lê Trí T1 và 03 con; Tiền án; tiền sự: Không;
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;(Có mặt).
Bị hại: Bà Trần Thị L, sinh năm 1966;
Nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình;
(Có mặt).
Trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bà Trần Thị L và Phạm Thị T đều là người đãi thóc giống thuê cho gia đình anh Mai Văn H1. Sáng ngày 19/02/2024, tại nhà anh H1 tại thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình, trong khi làm việc giữa bà L và T xảy ra mâu thuẫn, hai bên lời qua tiếng lại. Khoảng 14 giờ cùng ngày, trong lúc bà L đang đãi thóc giống trong sân nhà anh H1, T nhờ bà L bốc mạ cho T, bà L nói “Mày giỏi thì làm ông chủ đi, sao phải làm đầy tớ cho thằng H1” nên giữa T và bà Liên tiếp T2 cãi chửi nhau. Do bức xúc và cho rằng bà L xúc phạm nên T chạy ra ngoài cổng nhà anh H1 lấy chiếc cuốc dài 97cm, phần cán cuốc được làm bằng gỗ bo tròn, một đầu cán được gắn miếng kim loại bằng sắt mài sắc, hình bán nguyệt có kích thước (26x15,5)cm đang để trên xe mô tô biển kiểm soát 29H8-6977 của bà Vũ Thị C dựng ở ngoài cổng nhà anh H1 chạy về phía bà L đang đứng ở sân nhà anh H1. Lúc này, tay trái bà L đang cầm 01 chiếc rá nhựa màu đỏ có đường kính 40cm, khi T đứng đối diện với bà L, cách nhau khoảng 2 mét, T dùng hai tay cầm chiếc cuốc vung lên bổ một nhát từ trên xuống dưới, từ phải qua trái trúng vào bàn tay trái bà L. Hậu quả: Bà L bị đứt 1/2 chu vi cổ tay trái phía trước ngoài cổ tay; đứt gẫy xương bàn 1, đứt gẫy 1/2 khối xương tụ cốt, đứt gân duỗi ngón 1, đứt toàn bộ khối gân gấp nông sau các ngón 2,3,4,5, đứt gân gấp ngón 1, đứt gân gấp cổ tay quay và gan tay dài, đứt mạch quay tại nhánh tận, đứt mất thần kinh quay nhánh cảm giác. Bà L được đưa đến Trạm y tế xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình để sơ cứu, sau đó chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh T khám, nhập viện điều trị từ ngày 19/02/2024 đến ngày 08/3/2024, xuất viện. Ngày 18/3/2024, tiếp tục nhập viện để phục hồi chức năng, đến ngày 01/4/2024 xuất viện.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 127/KLTTCT-TTPY ngày 22/3/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: 1. Các kết quả chính: Mặt trước cổ tay trái có vết thương lớn chưa cắt chỉ. Mặt ngoài cổ tay trái có 02 vết thương: Vết thứ nhất vết thương nhỏ đang liền sẹo, vết thứ hai vết thương nhỏ đang liền sẹo. Mặt mu đốt 1 ngón I bàn tay trái có vết thương nhỏ đang liền sẹo. Gãy xương bàn 1 bàn tay trái. Đứt thần kinh quay trái nhánh cảm giác. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trần Thị L tại thời điểm giám định là 25% (Hai mươi lăm phần trăm).
Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 200/KLTTCT-TTPY ngày 22/4/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: 1. Các kết quả chính: Mặt trước cổ tay trái có vết thương lớn chưa cắt chỉ. Mặt ngoài cổ tay trái có hai vết thương: Vết thứ nhất vết thương nhỏ đang liền sẹo, vết thứ hai vết thương nhỏ đang liền sẹo. Mặt mu đốt 1 ngón I bàn tay trái có vết thương nhỏ đang liền sẹo. Gãy xương bàn 1 bàn tay trái. Đứt thần kinh quay trái nhánh cảm giác. Gãy xương cổ tay trái (xương thuyền, xương thang) gây ảnh hưởng đến động tác khớp cổ tay. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trần Thị L tại thời điểm giám định bổ sung là 30% (Ba mươi phần trăm).
Bản án hình sự sơ thẩm số 53/2024/HSST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 02 năm 03 tháng ( Hai năm ba tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Phạm Thị T phải bồi thường cho bà Trần Thị L, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình số tiền 126.490.000 ( Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn ) đồng. Bị cáo đã bồi thường cho bà Trần Thị L số tiền 50.000.000 đồng. Buộc bị cáo Phạm Thị T phải bồi thường cho bà Trần Thị L số tiền còn lại là 76.490.000 ( Bẩy mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn ) đồng.
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo đối với bị cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phạm Thị T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng mức bồi thường.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo kháng cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nội dung kháng cáo của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên và của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo Phạm Thị T và bị hại Trần Thị L làm trong hạn luật định được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 19/02/2024, tại gia đình anh Mai Văn H1, sinh năm 1984, nơi cư trú: thôn N, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; trong lúc làm thuê cho anh H1, giữa Phạm Thị T và bà Trần Thị L xảy ra mâu thuẫn, cãi chửi nhau qua lại; do bức xúc và cho rằng bị xúc phạm, Phạm Thị T đã có hành vi dùng chiếc cuốc cán gỗ, đầu gắn miếng kim loại sắt là hung khí nguy hiểm, bổ một nhát từ trên xuống dưới, từ trái qua phải vào bàn tay trái bà Trần Thị L. Hậu quả: bà Trần Thị L bị thương tích đứt 1/2 chu vi cổ tay trái phía trước ngoài cổ tay; đứt gẫy xương bàn 1, đứt gẫy 1/2 khối xương tụ cốt, đứt gân duỗi ngón 1, đứt toàn bộ khối gân gấp nông sau các ngón 2,3,4,5, đứt gân gấp ngón 1, đứt gân gấp cổ tay quay và gan tay dài, đứt mạch quay tại nhánh tận, đứt mất thần kinh quay nhánh cảm giác. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Trần Thị L là 30%. Hành vi của Phạm Thị T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Phạm Thị T về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo và bị hại thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần xem xét giải quyết đúng quy định pháp luật. Tại cấp sơ thẩm, Tòa án đã căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi do bị cáo T gây ra, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, số tiền bị cáo đã bồi thường để quyết định hình phạt 02 năm 03 tháng tù đối với bị cáo T là phù hợp. Hội đồng xét xử sơ thẩm cũng đã căn cứ vào quy định pháp luật, căn cứ vào chứng cứ bà Trần Thị L giao nộp để quyết định mức bồi thường thiệt hại 126.490.000 đồng là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ mới, vì vậy HĐXX không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo và bị hại phải chịu án phí phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Thị T và bị hại Trần Thị L. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 53/2024/HS-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 02 năm 03 tháng ( Hai năm ba tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Phạm Thị T phải bồi thường cho bà Trần Thị L, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình số tiền 126.490.000 ( Một trăm hai mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn ) đồng. Bị cáo đã bồi thường cho bà Trần Thị L số tiền 50.000.000 đồng. Buộc bị cáo Phạm Thị T phải bồi thường cho bà Trần Thị L số tiền còn lại là 76.490.000 ( Bẩy mươi sáu triệu bốn trăm chín mươi nghìn ) đồng.
- Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Thị T và bị hại Trần Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 30/9/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Thị Kim Hằng |
Bản án số 83/2024/HSPT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 83/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
