Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30 - 9 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Hương

Bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Nhung, là Thư ký tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ công khai vụ án thụ lý số 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trương Ngọc T, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; “vắng mặt”

- Bị đơn: Chị Đặng Thị G, sinh năm 1995; Nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên; Địa chỉ: Đài Loan “vắng mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Cháu Trương Minh N, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2020; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên. “vắng mặt”

Người giám hộ: Anh Trương Ngọc T, là bố; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam; “vắng mặt”

- Người làm chứng: Ông Đặng Đình B, sinh năm 1966; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện P, tỉnh Hưng Yên; “vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 27 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn anh Trương Ngọc T trình bày: Anh và chị Đặng Thị G tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam ngày 07 tháng 10 năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh nhưng vợ chồng thường mâu thuẫn to tiếng nên chị G đã về gia đình bố mẹ đẻ sống từ đầu năm 2022 và đến cuối năm 2022 thì đi làm việc tại Đài Loan. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 không quan tâm đến nhau và cũng không liên quan về kinh tế nên không còn tình cảm với nhau. Tháng 3 năm 2024 chị G về nước, anh chị đã thống nhất đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên giải quyết cho vợ chồng ly hôn nên đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn chị G.

Về con chung: Anh và chị Đặng Thị G có 01 con chung là Trương Minh N, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2020 đang sống cùng ông bà ngoại. Anh chị thống nhất khi ly hôn chị G tiếp tục nuôi con chung và đã thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vợ chồng không có tài sản, nghĩa vụ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Đặng Thị G thống nhất với lời khai của nguyên đơn về thời gian đăng ký kết hôn, quá trình chung sống, con chung của vợ chồng và trình bày: Thời gian chung sống anh chị thường xuyên mâu thuẫn và cả hai đều muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sống từ đầu năm 2022 và đi lao động tại Đài Loan từ cuối năm 2022. Vợ chồng đã sống ly thân không quan tâm đến nhau từ năm 2022 nên tháng 3 năm 2024, khi chị về nước hai vợ chồng đã thống nhất ly hôn do không còn tình cảm với nhau.

Vợ chồng có một con chung là Trương Minh N, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2020 đang ở với bố mẹ chị. Anh chị đã thống nhất chị tiếp tục nuôi con sau khi ly hôn, và đã thỏa thuận về việc cấp dưỡng nuôi con nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, nghĩa vụ chung của vợ chồng và các vấn đề khác.

Người làm chứng ông Đặng Đình B, bố chị Đặng Thị G trình bày: Anh G và anh Trương Ngọc T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn năm 2019. Sau khi kết hôn chị G đã về gia đình anh T chung sống nhưng do mâu thuẫn vợ chồng nên đầu năm 2022 đã cùng con về gia đình ông sống và đã đi lao động tại Đài Loan từ cuối năm 2022. Anh chị có một con chung là Trương Minh N sinh ngày 04 tháng 02 năm 2020 đang sống cùng vợ chồng ông. Ông nhất trí chăm sóc và nuôi dưỡng cháu N cho đến khi chị G về Việt Nam. Chị G và anh T không liên quan đến gia đình ông về tài sản, nghĩa vụ và các vấn đề khác.

Phòng Q Công an tỉnh H cung cấp: Chị Đặng Thị G, sinh ngày 01/03/1995; số CMND: [...]; Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện K, Hà Nam. Số hộ chiếu P00749938 đã nhập cảnh ngày 01/03/2024 và xuất ngày 31/03/2024 qua cửa khẩu N1.

Tại phiên tòa: Các đương sự đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Chủ tọa phiên tòa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến:

- Việc chấp hành pháp luật: Kể từ khi thụ ký vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, và các đương sự đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Các Điều 147, 228, 229 và Điều 238 BLTTDS. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của HĐTP TANDTC. Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trương Ngọc T, xử: Công nhận anh Trương Ngọc T và chị Đặng Thị G thuận tình ly hôn. Về con: Giao chị G nuôi con là Trương Minh N, sinh ngày 04/02/2020; ghi nhận sự tự nguyện của chị G không yêu cầu được cấp dưỡng nuôi con. Tài sản, nghĩa vụ chung và các vấn đề khác không đặt ra giải quyết. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T chịu toàn bộ án phí sơ thẩm ly hôn.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét, đánh giá toàn diện, khách quan, đầy đủ các chứng cứ, lời trình bầy của các đương sự, và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Theo cung cấp của Phòng Q Công an tỉnh H đã có căn cứ xác định chị Đặng Thị G đang sinh sống tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp quy định tại Điều 35, và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo Điều 228, Điều 229 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Anh Trương Ngọc T và chị Đặng Thị G tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Hà Nam ngày 07 tháng 10 năm 2019 nên hôn nhân của anh chị được pháp luật công nhận. Lời khai của anh chị phù hợp với lời khai của người làm chứng đã có căn cứ xác định vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022, không còn quan tâm chăm lo đến nhau chứng tỏ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài chị G đồng ý ly hôn là phù hợp với thực tế hôn nhân nên được chấp nhận.

[4] Quan điểm về con chung của anh Trương Ngọc T và chị Đặng Thị G là tự nguyện phù hợp với điều kiện thực tế đang nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nên sẽ giao chị G tiếp tục nuôi con là Trương Minh N, sinh ngày 04 tháng 02 năm 2020. Anh chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên không xem xét.

Quan điểm của chị Đặng Thị G và bố là ông Đặng Đình B về việc chăm sóc cháu N trong thời gian chị G làm việc ở nước ngoài là phù hợp khoản 4 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên theo Điều 46, Điều 47, Điều 62 Bộ luật Dân sự sẽ giao ông B giám hộ cháu N cho đến khi chị G có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

[5] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung, và các vấn đề khác: Anh Trương Ngọc T và chị Đặng Thị G đều không yêu cầu nên không giải quyết.

[6] Quan điểm chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm của anh Trương Ngọc T là tự nguyện và phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 46, Điều 47, Điều 62 Bộ luật Dân sự. Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

Công nhận sự thỏa thuận của anh Trương Ngọc T và chị Đặng Thị G:

  1. Quan hệ hôn nhân: Anh Trương Ngọc T và chị Đặng Thị G thuận tình ly hôn.
  2. Con chung: Chị Đặng Thị G trực tiếp nuôi con chưa thành niên là Trương Minh N sinh ngày 04 tháng 02 năm 2020.

    Công nhận sự tự nguyện của chị Đặng Thị G không yêu cầu anh Trương Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung. Trên cơ sở lợi ích của con, chị Đặng Thị G có quyền yêu cầu thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.

    Anh Trương Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Đặng Thị G có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh T.

    Anh Trương Ngọc T và chị Đặng Thị G hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    Giao ông Đặng Đình B giám hộ cháu Trương Minh N cho đến khi chị Đặng Thị G đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

  3. Tài sản chung, nghĩa vụ chung, và các vấn đề khác: Không giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Trương Ngọc T tự nguyện chịu 150.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000249 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên; Hoàn trả lại anh T số tiền chênh lệch 150.000 đồng.
  5. Quyền kháng cáo: Anh Trương Ngọc T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Chị Đặng Thi G1 được quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Đồng Hóa;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Hưng Yên;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Quang Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger