Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST

Ngày 26 - 8 - 2024

V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Thêu;

Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa:Bà Vũ Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thái – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 73/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 127/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 60/2024/QÐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lã Quý H, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn L, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình.

- Bị đơn: Chị Tạ Thu H1, sinh năm 1984.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình

Hiện đang lao động tại Nhật Bản.

(Các đương sự đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – anh Lã Quý H trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Tạ Thu H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 3 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Thời gian đầu kết hôn vợ chồng anh chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Sau đó, giữa anh và chị H1 xảy ra nhiều mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H và chị H1 bất đồng quan điểm sống, không thể tìm được tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng dần rạn nứt. Năm 2018 chị H1 đi lao động tại Nhật Bản. Trong khoảng thời gian chị H1 đi nước ngoài, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng trở nên trầm trọng hơn và không thể hoá giải mặc dù anh H và chị H1 đã nhiều lần cố gắng nói chuyện để hàn gắn. Năm 2022, chị H1 nghỉ phép về Việt Nam nhưng anh và chị H1 không sống cùng nhau, kể từ đó đến nay anh và chị H1 sống ly thân, không liên lạc với nhau. Nay anh xác định vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H1.

+Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Lã Tuấn M sinh ngày 06/11/2008 và cháu Lã Minh N sinh ngày 10/6/2014. Hiện nay cháu Tuấn M đang sinh sống cùng anh H, cháu Minh N đang sinh sống bố mẹ đẻ của chị H1. Anh đề nghị Toà án giao cháu Tuấn M cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Minh N cho chị H1 nuôi dưỡng. Anh không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

+Về tài sản và nợ chung: Anh và chị H1 không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án chị Tạ Thu H1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Toà án tiến hành thu thập lời khai của cháu Lã Minh N (con chung của anh H và chị H1), cháu Minh N trình bày:cháu Minh N có nguyện vọng được ở với chị H1 sau khi anh chị ly hôn, trong thời gian chị H1 ở nước ngoài thì cháu N có nguyện vọng được ở với ông bà ngoại.

Tại đơn đề nghị ngày 20/8/2024 củacháu Lã Tuấn M thể hiện nguyện vọng được ở với anh H sau khi anh chị ly hôn.

Toà án tiến hành thu thập lời khai của ông Tạ Hữu N1, sinh năm 1950; Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình (là bố đẻ của chị H1), ông N1 trình bày:Anh H và chị H1 kết hôn vào ngày 19 tháng 3 năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Năm 2018, chị H1 đi lao động tại Nhật Bản. Trong khoảng thời gian chị H1 đi nước ngoài, ông biết được vợ chồng anh H, chị H1 có phát sinh mâu thuẫn nhưng cụ thể mâu thuẫn như thế nào thì ông không nắm rõ. Ông N1 đã biết việc anh H xin ly hôn chị H1, quan điểm của ông là đề nghị Toà án căn cứ nguyện vọng của các bên và theo quy định của pháp luật để giải quyết. Anh H và chị H1 có hai con chung là cháu Lã Tuấn M sinh ngày 06/11/2008 và cháu Lã Minh N sinh ngày 10/6/2014. Hiện nay cháu Tuấn M đang sinh sống cùng anh H, cháu Minh N đang sinh sống cùng gia đình ông, đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Ông N1 trình bày anh H và chị H1 không có tài sản chung, không có nợ chung, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về nội dung, có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Hiện tại chị Tạ Thu H1 đang lao động ở Nhật Bản nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

[1.2] Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho chị Tạ Thu H1 nhưng chị H1 không tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến; anh H có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H, chị H2 đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Anh Lã Quý H và chị Tạ Thu H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quan hệ hôn nhân giữa anh H và chị H1 không hạnh phúc chứng minh qua lời khai của anh H và lời khai của ông N1 (bố đẻ của chị H1). Năm 2022, chị H1 xin nghỉ phép về Việt Nam nhưng anh H và chị H1 không sinh sống cùng nhau, vợ chồng sống ly thân, vậy có thể thấy mâu thuẫn giữa anh H và chị H1 đã xảy ra trong thời gian dài. Như vậy khẳng định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho anh H được ly hôn với chị H1 là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về nuôi con chung:Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Lã Tuấn M sinh ngày 06/11/2008 và cháu Lã Minh N sinh ngày 10/6/2014. Hiện nay cháu Tuấn M đang sinh sống cùng anh H, cháu Minh N đang sinh sống bố mẹ đẻ của chị H1. Anh đề nghị Toà án giao cháu Tuấn M cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, cháu Minh N cho chị H1 nuôi dưỡng.Xét thấy, cháu Tuấn M có nguyện vọng được ở với anh H, cháu Minh N có nguyện vọng được ở với chị H1. Mặc dù quá trình giải quyết vụ án chị H1 không có ý kiến trình bày nhưng hiện nay chị H1 đang lao động nước nước ngoài, cháu Minh N đang do ông bà ngoại nuôi dưỡng, cả hai cháu đang sinh sống ổn định, được học tập, phát triển tốt. Ông N1 (bố đẻ của chị H1) đề nghị Toà án giải quyết việc nuôi con chung của anh H và chị H1 theo quy định của pháp luật. Vì vậy, giao cháu Lã Tuấn M cho anh H nuôi dưỡng, cháu Lã Minh N cho chị H1 nuôi dưỡng là phù hợp.

Anh H không yêu cầu chị H1 cấp dưỡng nuôi con chung nên Toà án không đặt ra giải quyết.

[2.3] Về chia tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung; chị H3 mặt, không có ý kiến trình bày nên Hội đồng xét xử không giải quyết về quan hệ tài sản trong vụ án này.

[2.4] Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho anh Lã Quý H được ly hôn chị Tạ Thu H1.
  2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Lã Quý H trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lã Tuấn M, sinh ngày 06/11/2008, giao cho chị Tạ Thu H1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lã Minh N, sinh ngày 10/6/2014. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

    Anh H và chị H1 quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  3. Về chia tài sản: Không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Lã Quý H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng anh H nộp tại biên lai số 0000189 ngày 24/5/2024 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Lã Quý H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Chị Tạ Thu H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Dương Phúc, huyện Thái Thuỵ;
  • - UBND xã Hòa An, huyện Thái Thụy;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger