Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 83/2024/HNGĐ - ST

Ngày 21 - 11-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Tòng

Ông Bùi Quốc Kiên

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Viết Chiến - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn D, sinh năm 1993

    Nơi cư trú: Thôn G, xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng.

  2. Bị đơn: Chị Hồ Thị D1, sinh năm 1990

    Nơi cư trú: TDP Hồ Trung, phường Tân Dân, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị D1 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đỗ Văn D trình bày:

Về hôn nhân: anh và chị D1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/12/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống có nhiều bất đồng, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng và kể từ tháng 7 năm 2017 vợ chồng sống ly thân, chị D1 bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Nay anh xác định vợ chồng sống ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị D1.

Về con chung: anh và chị D1 02 con chung là Đỗ Tùng D2, sinh ngày 04/02/2015 và Đỗ Thị Huyền T, sinh ngày 27/11/2016, tại đơn khởi kiện anh D yêu cầu khi ly hôn anh trực tiếp nuôi cả hai con và không yêu cầu chị D1 cấp dưỡng, nhưng tại bản tự khai ngày 27/9/2024 anh D trình bày hiện nay 02 con đang ở với chị D1 từ năm 2017, nên khi ly hôn nếu chị D1 có nguyện vọng muốn được nuôi con anh đồng ý đề nghị Tòa án giao 02 con cho chị D1 nuôi dưỡng; nếu chị D1 yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung thì anh sẽ cấp dưỡng cho mỗi con 1.500.000 đồng/ tháng, 02 con là 3.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai bị đơn chị Hồ Thị D1 trình bày: Chị và anh D kết hôn năm 2013 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, thành phố Hải Phòng vào ngày 03/12/2013, sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, kể từ tháng 7 năm 2017 chị về quê ngoại ở và sống ly thân cho đến nay. Nay anh D gửi đơn ly hôn chị đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: chị và anh D 02 con chung là Đỗ Tùng D2, sinh ngày 04/02/2015 và Đỗ Thị Huyền T, sinh ngày 27/11/2016, nếu Tòa án giải quyết cho chị và anh D ly hôn, chị D1 có nguyện vọng nuôi cả hai con và yêu cầu anh D cấp dưỡng cho mỗi con 1.500.000 đồng/tháng, 02 con là 3.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản: Chị D1 không yêu cầu giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chấp hành không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Văn D. Về hôn nhân giải quyết cho anh D được ly hôn chị D1; Về con chung: giao cháu Đỗ Tùng D2, sinh ngày 04/02/2015 và Đỗ Thị Huyền T, sinh ngày 27/11/2016 cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh D cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng cho 01 con, hai con là 3.000.000 đồng/tháng;
  • Về tài sản chung: anh D và chị D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: anh D yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa anh và chị D1, chị D1 cư trú tại phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; anh D đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị D1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh D và chị D1 theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa anh D và chị D1: Quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị D1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh chị sống ly thân thời gian dài từ tháng 7 năm 2017 đến nay, mỗi người mỗi nơi, vợ chồng không gần nhau nên tình cảm phai nhạt. Anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị D1, chị D1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào trình bày của các đương sự có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa anh D và chị D1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh D là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: anh D và chị D1 có 02 con chung là Đỗ Tùng D2, sinh ngày 04/02/2015 và Đỗ Thị Huyền T, sinh ngày 27/11/2016 kể từ khi vợ chồng sống ly thân cả 02 con đều ở với chị D1 cho đến nay; anh D trình bày nếu chị D1 có nguyện vọng muốn được nuôi con anh đồng ý đề nghị Tòa án giao 02 con cho chị D1 nuôi dưỡng; chị D1 trình bày nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho một con, 02 con là 3.000.000 đồng/tháng. Cháu D2 và cháu T có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Vì vậy, cần giao cháu Đỗ Tùng D2, sinh ngày 04/02/2015 và Đỗ Thị Huyền T, sinh ngày 27/11/2016 cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung thực hiện định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng cho 01 con, hai con là 3.000.000 đồng/tháng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu D2 và cháu T.

[4] Về tài sản chung: anh D và chị D1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: anh D khởi kiện vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên phải chịu án phí DSST về việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 116, 117 và Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Văn D:
    • - Về hôn nhân: anh Đỗ Văn D được ly hôn chị Hồ Thị D1.
    • - Về con chung: Giao cháu Đỗ Tùng D2, sinh ngày 04/02/2015 và Đỗ Thị Huyền T, sinh ngày 27/11/2016 cho chị Hồ Thị D1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Anh Đỗ Văn D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, thực hiện định kỳ hàng tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng/1 con; 02 con là 3.000.000 đồng/tháng (ba triệu đồng một tháng), thời điểm cấp dưỡng kể từ tháng 12 năm 2024 cho đến khi con thành niên

    Anh D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

  3. Về án phí: anh Đỗ Văn D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con chung, được trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007221 ngày 01/7/2024.
  4. Anh Đỗ Văn D còn phải nộp 300.000 đồng án phí DSST.

  5. Quyền kháng cáo: anh D và chị D1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND xã Cao Minh,
  • huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/HNGĐ - ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 83/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh D ly hôn chị D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger