|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/5/2024 V/v tranh chấp “Ly hôn”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Sang.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Nhung.
- Bà Bùi Thị Thu Nhi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nhật Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Trà My, kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 650/2023/TLST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị N, sinh năm 1982 (xin vắng mặt).
Địa chỉ: E P, Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang . - Bị đơn: Anh Lê Thành Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt).
Địa chỉ:. 1 T, Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Tạ Thị N trình bày: Chị và anh Đ đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/11/2006, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Đ không lo làm ăn, phụ giúp gia đình, gây nợ, chị đã nhiều lần khuyên ngăn, nhưng anh Đ không thay đổi, đã ly thân từ tháng 12/2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thành D, sinh ngày 01/07/2007 và Lê Huỳnh N1, sinh ngày 23/07/2009. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Lê Thành Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Đ vẫn không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị N. Anh Đ vắng mặt không lý do trong tất cả các lần Tòa án triệu tập.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn không tuân thủ quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Anh Đ không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và cũng không tham dự các phiên hòa giải, phiên tòa, cho thấy anh Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ chấp nhận. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N. Về hôn nhân: Chị Tạ Thị N ly hôn với anh Lê Thành Đ. Về con chung: Giao cháu D và Như cho chị N nuôi dưỡng, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, chị N trình bày không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị Tạ Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Thành Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Tạ Thị N, anh Lê Thành Đ.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về hôn nhân: Chị Tạ Thị N, anh Lê Thành Đ có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố M cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/11/2006, nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu của chị Tạ Thị N, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị N và anh Đ kết hôn năm 2006, chị N trình bày tại bản tự khai, đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, chị N đều trình bày sau khi kết hôn thời gian đầu sống chung hạnh phúc, nhưng đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh Đ không lo làm ăn, phụ giúp gia đình, gây nợ, chị đã nhiều lần khuyên ngăn, nhưng anh Đ không thay đổi, đã ly thân từ tháng 12/2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đ.
Xét thấy, trong thời gian ly thân chị N, anh Đ không có biện pháp nào đoàn tụ, hiện mỗi người sống một nơi. Anh Đ thì không cung cấp ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị N và vắng mặt không dự phiên tòa để trình bày ý kiến về việc chị N yêu cầu ly hôn. Như vậy, hôn nhân giữa chị N và anh Đ đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị N yêu cầu được ly hôn với anh Đ là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Thành D, sinh ngày 01/07/2007 và Lê Huỳnh N1, sinh ngày 23/07/2009. Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Anh Đ thì không có ý kiến của mình về việc nuôi con để Hội đồng xét xử xem xét. Xét cháu D, cháu N1 có nguyện vọng được sống chung với chị N, để ổn định cuộc sống tâm sinh lý của các cháu. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của chị N. Giao cháu D, cháu N1 cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 58, 81, 82, 83, 107 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Chị N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về nợ chung: Chị N trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Chị Tạ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Xét, Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị N.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Thị N và anh Lê Thành Đ.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Thành D, sinh ngày 01/07/2007 và Lê Huỳnh N1, sinh ngày 23/07/2009 cho chị Tạ Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Thành Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N chưa yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Tạ Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0024514 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị Tạ Thị N nộp xong án phí.
Anh Lê Thành Đ có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
Chị Tạ Thị N, anh Lê Thành Đ, vắng mặt tại phiên tòa, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Sang |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
