TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 83/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12-12-2024
V/v Tranh chấp ly hôn, con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương A.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Bê.
Ông Lê Hoàng Tua.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Thi – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Nga – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 135/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 633/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1999. Có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, TP .
- Bị đơn: Anh Lê Công T1, sinh năm: 1997. Vắng mặt tại phiên tòa.
ĐKTT: 71/20, tổ B, Khu V, phường T, quận B, TP ..
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm T có đơn xin vắng mặt, trong Đơn khởi kiện chị T trình bày: chị và anh Thủ qua thời gian tìm hiểu tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Anh chị chung sống với nhau có 01 con chung tên Lê Hữu T2 (nam), sinh ngày 23/02/2021. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do quan điểm sống không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cự cải. Hiện tại chị T đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống, xét thấy hôn nhân không hạnh phúc nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh T1. Về con chung chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2 đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung là không có.
Bị đơn anh Lê Công T1 mặc dù đã triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên không rõ ý kiến.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm T có đơn xin vắng mặt nhưng trong bản tự khai nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Về con chung chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Lê Hữu T2 đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có. Bị đơn anh Lê Công T1 vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký và các đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hồ sơ giao cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời gian quy định. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền và xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, con chung” là đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự thấy rằng yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Xét về quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp: Chị T có Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T1 nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Loại tranh chấp này thuộc ngành Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Do bị đơn có nơi cư trú tại quận B, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn: Do nguyên đơn chị Nguyễn Thị Diễm T có đơn xin vắng mặt, anh Lê Công T1 mặc dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị T anh T1 là phù hợp.
[3] Xét thấy giữa chị T và anh Thủ tự N tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống do bất đồng quan điểm dẫn đến phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, anh chị đã sống ly thân. Nay hôn nhân của anh chị không hạnh phúc nên chị T có Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T1. Hội đồng xét xử thấy rằng khi hôn nhân của chị T và anh T1 phát sinh mâu thuẫn, hai bên không có động thái tích cực hàn gắn nên nếu duy trì hôn nhân thì mục đích hôn nhân vẫn không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T1.
[4] Về con chung: Anh chị chung sống với nhau có 01 con chung tên Lê Hữu T2 (nam), sinh ngày 23/02/2021, khi ly hôn chị T có nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng cháu T2 đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu T2 còn nhỏ nên giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
[5] Về tài sản chung: không có.
[6] Về nợ chung: không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.
[7] Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 273, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Diễm T.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Diễm T ly hôn với anh Lê Công T1.
- Về con chung: Giao cháu Lê Hữu T2 (nam), sinh ngày 23/02/2021 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Diễm T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0002971 ngày 02/10/2024 của T3 thành án dân sự quận B, thành phố Cần Thơ thành án phí.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa Trần Thị Phương A |
Bản án số 83/2024/HNGĐ-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 83/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thu - Thủ
