Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ T

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/DSST

Ngày: 17-9-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tân Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Minh và bà Nguyễn Thị Lời.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 106/QĐST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng N; Địa chỉ: B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc làm đại diện.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - chi nhánh P theo quyết định ủy quyền số 2665/QĐ-NHNPC ngày 01/12/2022 của Tổng giám đốc.

Ông T ủy quyền lại cho bà Trần Ngọc D, chức vụ: cán bộ pháp chế Ngân hàng N - chi nhánh P làm đại diện theo giấy ủy quyền số 1843/GUQ-NHN0PY-TH ngày 26/8/2024; Địa chỉ: C T, phường D, thành phố T, tỉnh Phú Yên.

* Bị đơn:

  • - Ông Phạm Văn S, sinh năm 1972;
  • - Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1971;
  • - Ông Phạm Văn L, sinh năm 1993;

Cùng nơi cư trú: Thôn N, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/5/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng N, bà Trần Ngọc D trình bày: Ngày 04/10/2018, Ngân hàng N (gọi tắt: Ngân hàng) và hộ gia đình ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị X, ông Phạm Văn L có ký kết sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn, theo đó Ngân hàng cho hộ gia đình ông S, bà X, ông L vay số tiền 50.000.000 đồng, mục đích vay vốn để mua bò chăn nuôi, thời hạn vay là 02 năm, hạn trả nợ gốc là ngày 04/10/2020, lãi suất trong hạn là 8,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 12,75%/năm.

Đến thời hạn trả nợ nhưng hộ gia đình ông S, bà X, ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng như đã cam kết. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và làm việc với hộ gia đình nhưng vẫn không trả nợ. Tính đến ngày 17/9/2024 hộ gia đình ông S, bà X, ông L còn nợ tổng cộng số tiền 73.261.986 đồng trong đó nợ gốc 50.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 17.042.808 đồng, nợ lãi quá hạn 6.219.178 đồng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện và yêu cầu hộ gia đình ông S, bà X, ông L phải trả số tiền 73.261.986 đồng và tiền lãi phát sinh sau ngày 17/9/2024 theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả nợ xong.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông S, bà X, ông L vắng mặt nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng qui định. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật; Bị đơn ông S, bà X, ông L không chấp hành các quy định pháp luật. Phát biểu ý kiến về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông S, bà X, ông L phải trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 17/9/2024 là 73.261.986 đồng và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Về án phí: bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân không có mục đích kinh doanh là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông S, bà X, ông L có nơi cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông S, bà X, ông L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Căn cứ Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 04/10/2018, Ngân hàng N cho hộ gia đình ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị X, ông Phạm Văn L vay số tiền 50.000.000 đồng, mục đích vay vốn để mua bò chăn nuôi, thời hạn vay là 02 năm, hạn trả nợ gốc là ngày 04/10/2020, lãi suất trong hạn là 8,5%/năm, lãi suất quá hạn bằng 12,75%/năm. Đến thời hạn trả nợ nhưng hộ gia đình ông S, bà X, ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng như đã cam kết. Nhiều lần, Ngân hàng N1 và yêu cầu trả nợ nhưng ông S, bà X, ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông S, bà X, ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ nêu trên. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N là có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn ông S, bà X, ông L phải trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền tính đến ngày 17/9/2024 là 73.261.986 đồng trong đó nợ gốc 50.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 17.042.808 đồng, nợ lãi quá hạn 6.219.178 đồng và tiền lãi phát sinh theo Sổ vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 04/10/2018 mà hai bên đã ký kết.

Từ những căn cứ nêu trên nên chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Bị đơn ông S, bà X, ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.

Buộc bị đơn ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị X và ông Phạm Văn L phải trả cho Ngân hàng N tổng cộng số tiền tính đến ngày 17/9/2024 là 73.261.986 đồng (bảy mươi ba triệu hai trăm sáu mươi mốt nghìn chín trăm tám mươi sáu đồng) trong đó nợ gốc 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 17.042.808 đồng (mười bảy triệu không trăm bốn mươi hai nghìn tám trăm lẻ tám đồng), nợ lãi quá hạn 6.219.178 đồng (sáu triệu hai trăm mười chín nghìn một trăm bảy mươi tám đồng) về khoản tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2024), ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị X và ông Phạm Văn L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị X và ông Phạm Văn L phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

Về án phí: Bị đơn ông Phạm Văn S, bà Nguyễn Thị X và ông Phạm Văn L phải chịu 3.663.099 đồng (ba triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn không trăm chín mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí 1.799.000 đồng (một triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002668 ngày 27/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Phú Yên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND Tp. T;
  • - Chi cục THADS Tp . T;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Thị Tân Sang

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/DSST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 83/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger