Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 83/2024/DS-PT

Ngày: 30/9/2024

V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà

Các Thẩm phán: Ông Ngô Chịu

Ông Lê Trúc Lâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Thu Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 45/2024/TLPT-DS ngày 28/6/2024 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐ-PT ngày 16/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 176/2024/QDDPT-DS ngày 27/8/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số: 193/2024/TB-DS ngày 24/9/2024; Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Ông Lê N, sinh năm 1958;
  2. Ông Lê T, sinh năm 1954;
  3. Bà Lê Thị L, sinh năm 1967;
  4. Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

  5. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Bà L và bà N1 ủy quyền cho ông N, theo Văn bản ủy quyền ngày 29/8/2023. Ông N và ông T có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn:

Vợ chồng ông Lê Văn L1 (Lê L1), sinh năm 1963 và bà Võ Thị Y, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Ông L1 có mặt; bà Y vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phan Thị B, sinh năm 1954; vắng mặt, có ủy quyền cho ông Lê N (chồng bà B).
  2. Vợ chồng ông Lê Thanh T1, sinh năm 1992 và bà Lê Thị Tuyết H; vắng mặt.
  3. Ông Lê Thanh T2, sinh năm 1985; có mặt.
  4. Ông Lê Ngọc T3, sinh năm 1988; vắng mặt.
  5. Ông Lê Thanh T4, sinh năm 1990; vắng mặt.
  6. Cùng nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

  7. Ủy ban nhân dân xã H, huyện T. Vắng mặt.
  8. Ủy ban nhân dân huyện T. Vắng mặt.

4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn L1 (L).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê N, Lê T, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị L thống nhất trình bày:

Cha, mẹ là cụ ông Lê M và cụ bà Phan Thị L2 có 05 người con gồm: ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L. Năm 1981, cụ L2 bệnh chết không để lại di chúc. Năm 2013, cụ Lê Minh C có để lại di chúc lập vào ngày 13/01/2009 (ký ngày 13/02/2009) chia thừa kế khối tài sản của mình là quyền sử dụng đất thửa số 370, tờ bản đồ 59A, diện tích hiện trạng sử dụng là 1.461,06 m² và các tài sản khác, theo đó: Vợ chồng ông Lê N và Phan Thị B nhận 100 m² đất ở và tài sản gồm: 01 tủ thờ, 02 cặp đèn lồng, 01 cặp lư đồng, 02 cặp đài đồng, 01 bàn tròn, 01 bàn vuông; vợ chồng Lê L1 và Võ Thị Y nhận 100 m² đất ở trên đó có căn nhà dưới. Phần còn lại đất vườn 982m² chia đều cho 5 con, gồm: ông Lê N, ông Lê Văn L1, ông Lê T, bà Lê Thị N1 và bà Lê Thị L. Ngày 23/9/2015, cả năm anh em họp thỏa thuận phân chia thừa kế, có lập giấy viết tay, nội dung thống nhất giao cho ông L1 toàn bộ diện tích đất, nhà và một số vật dụng sau đó ông L1 phải giao lại cho ông N một lô đất mặt tiền ngang 5m, dài giáp vào đất ông Lê N đang ở. Tuy nhiên, sau đó các bên không thực hiện nên xảy ra tranh chấp, khiếu kiện.

Ông Lê N cung cấp cho Tòa án ba bản di chúc của cụ Lê M (đều giống nhau) ghi lập vào ngày 13/01/2009 nhưng điểm chỉ vân tay ngày 13/02/2009, UBND xã H Đông xác nhận chứng thực ngày 13/01/2009. Do các bản di chúc đều sai ngày lập và chứng thực nên không có giá trị, ông N, ông T, bà N1, bà L yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với tài sản là quyền sử dụng đất ở và đất vườn thửa đất số 370, tờ bản đồ 59A tại P, Hòa Mỹ Đ, còn các tài sản nhà ở và tài sản khác trong nhà đã chia sử dụng xong, xin Tòa công nhận, không yêu cầu giải quyết lại; đối với tài sản là đất ruộng thì các anh em trong gia đình đã tự phân chia sử dụng nên đề nghị Tòa án công nhận theo thực tế.

Bị đơn ông Lê L1 trình bày:

Diện tích đất tại thửa số 370, tờ bản đồ 59A tại thôn P, H, huyện T, tỉnh Phú Yên đã được Nhà nước giao quyền sử dụng đất theo Nghị định 64/CP năm 1996 cho 07 nhân khẩu, gồm: ông Lê M, ông L1, bà Y, Lê Thanh T2, Lê Ngọc T3, Lê Thanh T4, Lê Thanh T1, chỉ đồng ý chia thừa kế phần tài sản đất Nhà nước cấp cho cha theo quy định; Về di chúc của ông Lê Minh L3 ngày 13/01/2009 là không hợp pháp, bởi vì tại thời điểm lập đã 90 tuổi nên ông M không còn minh mẫn; ngày tháng lập cũng không thống nhất nhau; việc lập di chúc con cái không ai biết, sau khi chết mới biết nên xảy ra anh em tranh chấp nhau. Tôi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Còn các tài sản nhà ở và tài sản khác trong nhà anh em cũng đã chia sử dụng; đối với tài sản là đất ruộng thì các anh em trong gia đình đã tự phân chia sử dụng nên đề nghị Tòa án công nhận theo thực tế.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Thanh T2, Lê Ngọc T3, Lê Thanh T4, Lê Thanh T1 không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về chia thừa kế tài sản của ông Lê M, thống nhất ý kiến của ông Lê Văn L1.

UBND xã H xác định trong hồ sơ quản lý đất đai có ghi tên người sử dụng đất Lê M đối với đất có tranh chấp, nhưng chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2024/DSST ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa đã quyết định:

Căn cứ 657, 658 BLDS 2005; 613, 649, 650, 651, 660 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

  1. Tuyên bố Di chúc của cụ Lê Minh G lập vào ngày 13/01/2009 là không hợp pháp. Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản cụ Lê M và cụ Phan Thị L2 để lại là 200m² đất ở và 1090m² đất vườn tại thửa số 370, tờ bản đồ 59A tại thôn P, H, huyện T, tỉnh Phú Yên có tổng giá trị là 2.244.000.000 đồng cho ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L, mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế bằng nhau có giá trị là 448.800.000đ (Bốn trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).
  2. Giao cho ông Lê Văn L1 nhận quyền sử dụng 200m² đất ở và 1.090m² đất vườn trong tổng diện tích 1.461 m² thửa số 370, tờ bản đồ 59A tại thôn P, H, huyện T, tỉnh Phú Yên có vị trí: Đông giáp Phan Thị Q, Đặng T5; Tây và N2 giáp đường bê tông; Bắc giáp Lê Ngân . Đồng thời buộc ông Lê Văn L1 có nghĩa vụ phải thanh toán cho ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, bà Lê Thị L mỗi người một kỷ phần thừa kế có giá trị là 448.800.000₫ (Bốn trăm bốn mươi tám triệu tám trăm nghìn đồng).

  3. Công nhận sự thỏa thuận về chia tài sản thừa kế của ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L: Ông Lê Văn L1 được nhận sử dụng các thửa đất ruộng tại P, Hòa Mỹ Đ, T, Phú Yên gồm: Thửa số 242, tờ bản đồ 35C, diện tích 800m² đồng Cầu C; thửa 390, tờ bản đồ 59C, diện tích 810m² đồng T; thửa 596, tờ bản đồ 59A, diện tích 2.244m² đồng Bầu Cơ; một phần thửa 421, tờ bản đồ 59A, diện tích 732m² đồng Nhỏ; nhà ở cấp 4 (cả nhà trên và nhà dưới) của cụ Lê M và cụ Phan Thị L2, 01 bộ đèn đồng; 01 lư hương, 01 bộ đài đồng, 01 bàn vuông, 01 bàn tròn. Ông Lê N được nhận sử dụng thửa đất ruộng tại P, Hòa Mỹ Đ, T, Phú Yên là 670m² thuộc một phần thửa số 421, tờ bản đồ 59A đồng Nhỏ, 01 bộ đèn đồng, 01 lư hương, 01 bộ đài đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/4/2024 và ngày 03/5/2024, bị đơn ông Lê Văn L1 gửi đơn kháng cáo và kháng cáo bổ sung toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn thay đổi một phần kháng cáo, yêu cầu xác định di sản của cha là 1/7 đất ở, không chia đất sản xuất nông nghiệp trong thửa 370, giao toàn bộ đất cho bị đơn thì không yêu cầu tính công sức, nếu cấp phúc thẩm chia hết đất thì phải khấu trừ công sức, các thỏa thuận tại cấp sơ thẩm không kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, HĐXX tiến hành tố tụng đúng quy định, đương sự thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng. Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 của BLTTDS, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Lê Văn L1 kháng cáo và nộp tạm ứng án phí trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung vụ án: Cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền, diện, hàng thừa kế của cụ Lê M, cụ Phan Thị L2, nhận định về bản di chúc các nguyên đơn cung cấp là không hợp pháp và giải quyết tranh chấp chia di sản thừa kế theo pháp luật là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn L1: tại đơn kháng cáo ngày 16/4/2024, ông L1 yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm, tại đơn kháng cáo bổ sung ngày 03/5/2024 yêu cầu sửa án sơ thẩm, không chấp nhận chia đất sản xuất, di sản của cha Lê M là 1/7 diện tích đất ở là 35,71m² chia thừa kế cho mỗi người là 7,14m², ông L1 nhận 28,568m² đất và thanh toán giá trị 7,14m² đất ở cho những người thừa kế.

[4] HĐXX xét thấy: Tại Công văn số 290/UBND ngày 21/12/2021 của UBND xã H (BL96) có nội dung: Thửa đất có diện tích tranh chấp thể hiện tại sổ cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP tại thửa 405, tờ bản đồ số 05, diện tích 962m² gồm 200m² đất ở, 200m² đất QHTC, 562m² đất vườn ghi tên ông Lê L1 (con) và Lê M (07 khẩu). Ngoài ra tại trang cân đối giao đất còn thể hiện giao cho hộ gia đình 4953m² đất nông nghiệp (LUC+LUK). Diện tích 562m² đất vườn và 4953m² đất nông nghiệp đã được cấp GCNQSDĐ năm 1998 ghi tên ông Lê Lanh .1 Đồng thời Công văn này cũng khẳng định thửa 405, tờ bản đồ số 05, diện tích 562m² đất HNK (trang cân đối NĐ 64/CP và GCN năm 1998 tên Lê L1) chính là thửa đất số 370, tờ bản đồ số 59A đo đạc năm 1996, cũng là thửa số 836, tờ bản đồ số 09 đo đạc năm 2016. Ngoài ra, các thửa đất theo GCNQSDĐ đứng tên Lê Lanh cũng chính là các thửa đất tại Sổ mục kê, sổ địa chính ghi tên cụ Lê Minh N3 nội dung Tờ trình số: 187/TTr-UBND ngày 24/12/2013 (BL325) của UBND xã H, tuy Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T có Văn bản số 1815/CNVPĐKĐĐ ngày 06/10/2022 (BL304) cung cấp thông tin chi nhánh chưa nhận được Tờ trình này và tại trang 131 sổ địa chính số 09, trang 70 sổ mục kê số 02 chưa thực hiện chỉnh lý biến động từ hộ Lê M sang hộ Lê Văn L1 nhưng qua đối chiếu hồ sơ quản lý đất đai do UBND xã H Đông cung cấp, bản photo Giấy chứng nhận QSDĐ số G669505, số vào sổ 1290 ngày 12/5/1998 cũng như sự thống nhất của các đương sự tại phiên tòa thì từ trước đến nay, hộ gia đình ông Lê L1 gồm cha là cụ Lê M, ông Lê L1, vợ Võ Thị Y cùng các con: Lê Thanh T2, Lê Ngọc T3, Lê Thanh T4, Lê Thanh T1 chỉ sử dụng các thửa đất hiện nay các bên tranh chấp cho rằng đó là di sản của cụ Lê Minh C1 không sử dụng các thửa đất nào khác. Do đó nhận định của cấp sơ thẩm “Mặt khác, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông L1 cung cấp thể hiện hộ Lê Văn Ll cũng đã được cân đối giao đất theo Nghị định 64/CP và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích 5.515m² gồm 5 thửa đất thuộc tờ bản đồ số 5, 8 không phải thuộc tờ bản đồ 59A” là không chính xác. Như vậy, đối với diện tích đất ở 200m², 200m² đất QHTC chưa được cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Lê L1 cũng như cho cụ Lê M. Tại QĐ số 2830 ngày 31/12/2013 (sau khi cụ M chết) của UBND huyện T công nhận ông Lê Văn L1 được QSD 171m² đất quy hoạch thổ cư thành 50m² đất ở và 121m² đất vườn (HNK), tại phiên tòa ông L1 xác nhận là ông chưa được cấp Giấy CNQSDĐ theo Quyết định này vì gia đình đang tranh chấp, đồng thời theo các biên bản hòa giải tại địa phương khi thực hiện việc cấp GCNQSDĐ đối với các diện tích đất chưa được cấp theo Quyết định số 315/2006/QĐ-UBND ngày 16/02/2006 của UBND tỉnh P đối với cụ Lê M thì do cụ M chết, gia đình chưa thỏa thuận được. Căn cứ quy định tại Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 về “... Quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp” thì đất cân đối Nghị định 64/CP không bao gồm diện tích 200m² đất ở và 200m² đất quy hoạch thổ, các đương sự đều thống nhất đất ở là do cụ M và cụ L2 tạo lập, còn đất quy hoạch thổ đã được Nhà nước công nhận cho ông L1 nên thuộc quyền sử dụng của ông L1, các thửa đất khác theo sổ mục kê, sổ địa chính đứng tên cụ Lê M (và đã được cấp GCN đứng tên Lê Lanh năm 1998) là đất cân đối Nghị định 64/CP cho 07 nhân khẩu: L, Lê L1, Võ Thị Y, Lê Thanh T2, Lê Ngọc T3, Lê Thanh T4, Lê Thanh T1.

[5] Theo kết quả đo đạc thực tế hiện nay, trong tổng diện tích đất 1.461 m² thửa số 370, tờ bản đồ 59A tại thôn P, H, huyện T, tỉnh Phú Yên hiện đang do ông Lê L1 quản lý trừ 171m² được Nhà nước công nhận cho ông L1 còn lại diện tích 1290m², HĐXX xác định di sản của cụ Lê M và cụ Phan Thị L2 để lại gồm 200m² đất ở, cụ Lê M có 1/7 của 1090m² đất HNK = 155,714m² để chia thừa kế theo pháp luật.

[6] Xác định giá trị kỷ phần thừa kế: Căn cứ kết quả định giá lại tài sản xác định giá đất ở theo giá thị trường là 2.500.000đ/m² x 200m² đất ở giá là 500.000.000đ; giá đất HNK là 1.600.000đ/m² x 155,714m² giá là 249.142.400đ. Tổng giá trị di sản thừa kế quyền sử dụng đất là 749.142.400đ. Xét thấy, ông Lê L1 sống cùng cha mẹ cụ M, cụ L2 từ nhỏ cho đến khi lập gia đình, vợ chồng, con ông L1 sống cùng cụ M, có công chăm sóc cha mẹ, giữ gìn đất, cấp sơ thẩm nhận định “Hiện trạng sử dụng trên đất gia đình ông L1 đã xây tường rào kiên cố, sử dụng ổn định, có tồn tại hai ngôi nhà xây dựng kiên cố. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự, cần chia thừa kế theo giá trị di sản mà không chia theo hiện trạng sử dụng đất. Ông L1 có công sức sử dụng, duy trì giá trị đất, có công trình, tài sản trên đất nên được giao quyền sử dụng đất” là có căn cứ nhưng không khấu trừ công sức cho ông là có thiếu sót, HĐXX phúc thẩm xét thấy cần khấu trừ cho ông L1 10% công sức trong giá trị di sản = 74.914.240đ, phần di sản còn lại 674.228.160đ chia cho các thừa kế của cụ M, cụ L2, cụ thể ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế có giá trị là 674.228.160đ/5 = 134.845.632đ (làm tròn số là 134.846.000đ). Ông Lê Văn L1 được giao quyền sử dụng đất nên có nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, bà Lê Thị L mỗi người 134.846.000đ.

[7] Do đó, HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, chấp nhận đề nghị của KSV tại phiên tòa, sửa một phần bản án sơ thẩm như nhận định trên. Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo nên không xem xét lại.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: bị đơn kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí DSPT.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm.

Căn cứ 657, 658 BLDS 2005; 613, 649, 650, 651, 660 và Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

  1. Tuyên bố Di chúc của cụ Lê Minh G lập vào ngày 13/01/2009 là không hợp pháp. Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản cụ Lê M, cụ Phan Thị L2 để lại là 200m² đất ở và quyền sử dụng đất của cụ Lê Minh L4 (1/7 trong diện tích 1090m² đất HNK) = 155,714m² đất HNK tại thửa số 370, tờ bản đồ 59A tại thôn P, H, huyện T, tỉnh Phú Yên có tổng giá trị sau khi khấu trừ công sức của ông L1 10% giá trị di sản còn lại là 674.228.160đ cho ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L, mỗi người được nhận một kỷ phần thừa kế bằng nhau có giá trị là 134.846.000đ (Một trăm ba mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
  2. Giao cho ông Lê Văn L1 nhận quyền sử dụng 200m² đất ở và 155,714m² đất HNK trong tổng diện tích 1.461 m² thửa số 370, tờ bản đồ 59A tại thôn P, H, huyện T, tỉnh Phú Yên có vị trí: Đông giáp Phan Thị Q, Đặng T5; Tây và N2 giáp đường bê tông; Bắc giáp Lê Ngân . Đồng thời buộc ông Lê Văn L1 có nghĩa vụ phải thanh toán cho ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, bà Lê Thị L mỗi người một kỷ phần thừa kế có giá trị là 134.846.000đ (Một trăm ba mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Công nhận sự thỏa thuận về chia tài sản thừa kế của ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L: Ông Lê Văn L1 được nhận sử dụng các thửa đất ruộng tại P, Hòa Mỹ Đ, T, Phú Yên gồm: Thửa số 242, tờ bản đồ 35C, diện tích 800m² đồng Cầu C; thửa 390, tờ bản đồ 59C, diện tích 810m² đồng T; thửa 596, tờ bản đồ 59A, diện tích 2.244m² đồng Bầu Cơ; một phần thửa 421, tờ bản đồ 59A, diện tích 732m² đồng Nhỏ; nhà ở cấp 4 (cả nhà trên và nhà dưới) của cụ Lê M và cụ Phan Thị L2, 01 bộ đèn đồng; 01 lư hương, 01 bộ đài đồng, 01 bàn vuông, 01 bàn tròn. Ông Lê N được nhận sử dụng thửa đất ruộng tại P, Hòa Mỹ Đ, T, Phú Yên là 670m² thuộc một phần thửa số 421, tờ bản đồ 59A đồng Nhỏ, 01 bộ đèn đồng, 01 lư hương, 01 bộ đài đồng.
  4. Về chi phí tố tụng: Ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L mỗi người phải chịu 2.140.000đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ông Lê N đã nộp tạm ứng 10.000.000đ; ông Lê T đã nộp tạm ứng 700.000đ nên bà Lê Thị N1, ông Lê Văn L1, bà Lê Thị L mỗi người phải trả cho ông Lê Ngân 2 (hai triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng), ông Lê T phải trả cho ông Lê Ngân 1 (Một triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng).
  5. Về án phí: Ông Lê N, bà Lê Thị N1, ông Lê T, bà Lê Thị L mỗi người phải chịu 6.742.000đ ( Sáu triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) án phí DSST, mỗi người được trừ 200.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại các biên lai thu tiền số 0002523 (N), 0002525 (Nhiên), 0002524 (Lợi), 0002522 (Tự) ngày 12/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên nên mỗi người còn phải nộp 6.542.000₫ (Sáu triệu năm trăm bốn mươi hai nghìn đồng) án phí DSST.
  6. Ông Lê Văn L1 phải chịu 6.742.000đ (Sáu triệu bảy trăm bốn mươi hai nghìn đồng) án phí DSST, được khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000846 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa tỉnh Phú Yên nên còn phải nộp 6.442.000đ (Sáu triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng) án phí DSST.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND CC Đà Nẵng
  • - VKSND tỉnh Phú Yên;
  • - TAND huyện Tây Hòa
  • - Chi cục THA dân sự huyện T;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 83/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu chia di sản thừa kế QSDĐ theo di chúc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger