Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 83/2024/DS-ST

Ngày 28-8-2024

V/v tranh chấp về thừa kế tài sản

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Văn Tỉnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Phạm Mạnh Hùng
  • Ông Nguyễn Nam Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hinh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST- DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Đình K, sinh năm 1965; ĐKHKTT: Số A đường H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Số C đường Â, phường T, quận T, thành phố Hà Nội, có mặt.

- Bị đơn: Cụ Lê Thị T, sinh năm 1932; nơi cư trú: Số B (số C) ngõ H L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền của cụ Lê Thị T: Anh Lê Đức H, sinh năm 2000; địa chỉ: Số F đường Đ, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Vũ Đình Đ (Vu Donking D), sinh năm 1955; địa chỉ: E Rhonda St . Santa Ana C, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; địa chỉ hiện tại: 2141 SANCHOR ST ANAHEIM CA 92802, B, Hoa Kỳ, vắng mặt.
  • + Ông Vũ Đình K1 (Vu Dinh K2), sinh năm 1962; địa chỉ nhà ở: M A DOAN 16 WOODLAND ST MARRICKVILLE NSW 2204, Australia; địa chỉ nơi làm việc: 44A BURWOOD ROAD BURWOOD.NSW, SYDNEY, AUSTRALIA, vắng mặt.
  • Người đại diện theo uỷ quyền ông Vũ Đình Đ (Vu Donking D) và ông Vũ Đình K1 (Vu Dinh K2): Ông Vũ Đình K, sinh năm 1965; ĐKHKTT: Số A đường H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Số C đường Â, phường T, quận T, thành phố Hà Nội, có mặt.
  • + Ông Vũ Đình K3, sinh năm 1964; địa chỉ: D WELDOI S, Hợp chủng quốc H, vắng mặt.
  • + Ngân hàng Cổ phần V; địa chỉ: Số H đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; địa chỉ Chi nhánh H3: Số C đường P, quận N, thành phố Hải Phòng, vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Bà Vũ Thị H1 (đã chết).

Người thừa kế thế vị của bà Vũ Thị H1:

  1. Chị Cindy D1, sinh năm 1976; địa chỉ: H PIERCE DR BUNA PARK CA I, Hoa Kỳ, vắng mặt, có ý kiến xin xét xử vắng mặt.
  2. Chị Catherine D2, sinh năm 1978; địa chỉ: H PIERCE DR BUNA PARK CA I, Hoa Kỳ, vắng mặt, có ý kiến xin xét xử vắng mặt).
  3. Chị Duong Ha L, sinh năm 1980; địa chỉ: D S B, A, CA 92804, Hoa Kỳ, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Anh Duong Ngoc L1; sinh năm 1982; địa chỉ: 2141.S.Anchor ST, ANAHEIM CA 92802, Hoa Kỳ, vắng mặt, có ý kiến xin xét xử vắng mặt.
  5. Anh Duong Quoc P, sinh năm 1986; địa chỉ: H PIERCE DR BUNA PARK CA I, Hoa Kỳ, vắng mặt, có ý kiến xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị Cindy D1, chị Catherine D2, chị Duong Ha L, anh Duong Ngoc L1 và anh D2 Quoc Phong là ông Vũ Đình K, sinh năm 1965; ĐKHKTT: Số A đường H, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: Số C đường Â, phường T, quận T, thành phố Hà Nội, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, Nguyên đơn Vũ Đình K trình bày:

Bố mẹ ông là cụ Vũ Đình C1 (sinh năm 1931, mất năm 2019) và cụ Lê Thị T, sinh năm 1931 sinh được 05 người con là: Ông Vũ Đình Đ (sinh năm 1955), ông Vũ Đình K1 (sinh năm 1961), ông Vũ Đình K3 (sinh năm 1964), bà Vũ Thị H1 (sinh năm 1956, mất năm 1995 tại Mỹ) và ông Vũ Đình K (sinh năm 1965). Ngoài 05 người con như trên cụ C1, cụ T không có con nuôi, con riêng nào khác.

Bà Vũ Thị H1 có chồng là ông Dương Quốc C và 05 con gồm 3 gái, 2 trai là các anh chị C, C, Duong L, Duong N và D3 hiện nay đều sinh sống tại Mỹ. Ngoài 05 người con như trên bà H1 và ông C không có con nuôi, con riêng nào khác.

Ngày 15/12//2019, cụ Vũ Đình C1 chết không để lại di chúc.

Khi còn sống, cụ Vũ Đình C1 và cụ Lê Thị T đã tạo lập được khối tài sản chung gồm 01 căn nhà 3 tầng trên diện tích đất diện tích đất 91,58 m² tại số B (số C) ngõ H đường L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH15642, thửa đất số 297, tờ bản đồ LKT-08 đứng tên cụ Vũ Đình C1 và cụ Lê Thị T.

Ngoài diện tích nhà đất nêu trên các cụ còn có 16 sổ gửi tiền tiết kiệm, tại ngân hàng V, chi nhánh H3, cụ thể:

  1. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 2980641 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 22/6/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 348.000.000 VNĐ (Ba trăm bốn mươi tám triệu đồng Việt Nam);
  2. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3224034 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 30/11/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 170.000.000 VNĐ (Một trăm bảy mươi triệu đồng Việt Nam);
  3. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 2980642 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 22/6/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 522.000.000 VNĐ (Năm trăm hai mươi hai triệu đồng Việt Nam);
  4. Thẻ tiết kiệm số TV 3753308 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 04/9/2019, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 329.870.000 VNĐ (Ba trăm hai mươi chín triệu, tám trăm bảy mươi nghìn đồng Việt Nam);
  5. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3111098 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 07/8/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 192.900.000 VNĐ (Một trăm chín mươi hai triệu, chín trăm nghìn đồng Việt Nam);
  6. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 2629908 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 12/02/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 100.000.000 VNĐ (Một trăm triệu đồng Việt Nam);
  7. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3472774 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 28/6/2019, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 100.000.000 VNĐ (Một trăm triệu đồng Việt Nam);
  8. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3273896 do Ngân hàng TMCP V Chi nhánh H3 phát hành ngày 30/01/2019, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 173.600.000 VNĐ (Một trăm bảy mươi ba triệu, sáu trăm nghìn đồng Việt Nam);
  9. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 2980603 do Ngân hàng TMCP V1 Chi nhánh H3 phát hành ngày 20/6/2018, đứng tên ông Nam Thịnh Vượng Vũ Đình C1, mệnh giá: 390.000.000 VNĐ (Ba trăm chín mươi triệu đồng Việt Nam);
  10. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3468505 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 22/4/2019, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 165.700.000 VNĐ (Một trăm sáu mươi lăm triệu, bảy trăm nghìn đồng Việt Nam);
  11. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3290399 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 20/02/2019, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 55.000.000 VNĐ (Năm mươi lăm triệu đồng Việt Nam);
  12. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3292867 do Ngân hàng TMCP V1 Chi nhánh H3 phát hành ngày 08/4/2019, đứng tên ông Nam Thịnh Vượng Vũ Đình C1, mệnh giá: 105.000.000 VNĐ (Một trăm linh năm triệu đồng Việt Nam);
  13. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3273831 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 23/01/2019, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 100.000.000 VNĐ (Một trăm triệu đồng Việt Nam);
  14. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 3114734 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 24/9/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 480.000.000 VNĐ (Bốn trăm tám mươi triệu đồng Việt Nam);
  15. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 2980644 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 22/6/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 37.000.000 VNĐ (Ba mươi bảy triệu đồng Việt Nam);
  16. Chứng nhận tiền gửi tiết kiệm VND số TV 2980643 do Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh H3 phát hành ngày 22/6/2018, đứng tên ông Vũ Đình C1, mệnh giá: 174.750.000 VNĐ (Một trăm bảy mươi bốn triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng Việt Nam);

Tính đến ngày 11/11/2023 tiền gốc và lãi là 4.624.123.065 đồng (bốn tỷ sáu trăm hai mươi tư triệu một trăm hai mươi ba nghìn không trăm sáu mươi lăm đồng).

Nguyên đơn ông Vũ Đình K, đề nghị Toà án chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đình C1 gồm 01 căn nhà 3 tầng trên diện tích đất diện tích đất 91,58 m² tại số B (số C) ngõ H đường L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng và số tiền tiết kiệm tại Ngân hàng V – chi nhánh H3 tính đến ngày 11/11/2023 tiền gốc và lãi là 4.624.123.065 đồng (bốn tỷ sáu trăm hai mươi tư triệu một trăm hai mươi ba nghìn không trăm sáu mươi lăm đồng) theo quy định pháp luật.

Bị đơn cụ Lê Thị T và người đại diện theo ủy quyền có quan điểm: Cụ Lê Thị T và cụ Vũ Đình C1 chung sống với nhau từ trước năm 1955, đến tháng 01/2004 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng. Cụ T và cụ Chế sinh được 05 người con như nguyên đơn trình bày là đúng. Quá trình chung sống cụ T và cụ C1 đã tạo dựng được khối tài sản là nhà đất và số tiền gửi tiết kiệm như nguyên đơn trình bày là đúng, nhà và đất đứng tên cụ T và cụ C1, số tiền gửi trong ngân hàng gồm 16 sổ tiết kiệm đứng tên cụ Vũ Đình C1. Năm 2019 chồng cụ T là cụ Vũ Đình C1 chết không để lại di chúc, nay ông Vũ Đình K yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ C1 để lại cụ T có quan điểm đồng ý với yêu cầu của ông K. Hiện căn nhà số B ( số C) ngõ H đường L, phường L (nay là phương Cầu Đ1) do cụ T đang quản lý sử dụng, cụ có quan điểm đề nghị Toà án giao nhà và đất cho cụ quản lý sử dụng cụ sẽ có trách nhiệm thanh toán cho các đồng thừa kế giá trị bằng tiền phần di sản được hưởng. Đối với di sản của cụ C1 là số tiền gửi tiết kiệm trong Ngân hàng V cụ đề nghị Toà án chia đều cho các đồng thừa kế.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đình Đ (Vu Donking D), ông Vũ Đình K1 (V2) có ý kiến:

Các ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế của cụ C1. Trong trường hợp Toà án chia di sản ông Đ và ông K1 có quan điểm xin được nhận phần di sản mình được hưởng. Các ông có quan điểm đồng ý giao nhà và đất cho mẹ ông là cụ Lê Thị T quản lý sử dụng và cụ T có trách nhiệm thanh toán phần giá trị di sản bằng tiền cho các ông. Do ở xa, nên ông Đông K1 xin được vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên toà. Ông Đ và ông K1 uỷ quyền cho em trai là ông Vũ Đình K, sinh năm 1965; nơi ở hiện tại: Số C đường Â, phường T, quận T, thành phố Hà Nội thay mặt ông nhận các văn bản và làm việc với Toà án. Suất thừa kế mà ông được hưởng ông đề nghị Tòa tạm giao cho ông Vũ Đình K quản lý, ông K sẽ có trách nhiệm trả cho ông khi ông về Việt Nam.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đình K3: Tòa án đã tiến hành ủy thác tống đạt thông báo thụ lý vụ án và lấy lời khai theo quy định pháp luật, nhưng đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông Vũ Đình K3 không có ý kiến gửi Tòa án.

Người thừa kế thế vị của bà Vũ Thị H1 là chị Cindy D1, Chị Catherine D2, chị Duong Le H2, anh Duong Ngoc L1, anh Duong Quoc P thống nhất trình bày: Bố mẹ của anh chị là ông D4 (tên tiếng Việt là Dương Quốc C) và bà Vũ Thị H1 có 05 người con là chị Cindy D1, Chị Catherine D2, chị Duong Le H2, anh Duong Ngoc L1, anh Duong Quoc P. Anh chị được biết hiện nay Tòa án giải quyết vụ án chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đình C1 và Lê Thị T gồm số tiền tiết kiệm tại Ngân hàng V - Chi nhánh H3 và nhà đất tại số B (số C) ngõ H đường L, N, Hải Phòng. Anh chị có quan điểm: Đề nghị được nhận di sản bằng giá trị (bằng tiền). Anh chị đề nghị Tòa án giao phần di sản được hưởng cho ông Vũ Đình K thay mặt các anh chị nhận và ông K có trách nhiệm giao lại cho ông Vũ Đình K1. Anh chị đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, và ủy quyền cho ông Vũ Đình K, sinh năm 1965; nơi ở hiện tại: Số C đường Â, phường T, quận T, thành phố Hà Nội thay mặt anh, chị nhận các văn bản tại Tòa án, và đề nghị Tòa án thông báo kết quả giải quyết cho ông D4 (Dương Quốc C).

Ngân hàng TMCP V có quan điểm: Xác nhận về 16 sổ tiết kiệm của cụ Vũ Đình C1, gửi tại Ngân hàng là đúng, số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 4.838.209.053 đồng (bốn tỷ tám trăm ba mươi tám triệu hai trăm linh chín nghìn không trăm năm mươi ba đồng). Ngân hàng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên quan điểm đã trình bày, đề nghị Tòa án chia di sản của cụ Vũ Đình C1 theo quy định pháp luật. Ông Vũ Đình K đề nghị chia di sản của cụ C1, số tiền gửi trong 16 sổ tiết kiệm tại Ngân hàng V, tính đến ngày 14/8/2024; tiền gốc và lãi tạm tính là 4.838.209.053 đồng. Đối với số tiền lãi suất phát sinh của các số tiền gửi tiết kiệm từ ngày 14/8/2024 đến khi thi hành án, ông thay mặt cho các anh em đã ủy quyền, thống nhất giao toàn bộ cho cụ Lê Thị T.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đình C1 để lại là ½ nhà và đất tại số B (số C) ngõ H đường L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH15642, thửa đất số 297, tờ bản đồ LKT-08; diện tích đất ở 91,58 m²; diện tích xây dựng: 80,3 m²; diện tích sàn: 240,9 m²; và ½ số tiền trong 16 sổ tiết kiệm của cụ Vũ Đình C1 gửi tại Ngân hàng V, tạm tính đến ngày 14/8/2024 số tiền gốc và lãi là 4.838.209.053 (bốn tỷ tám trăm ba mươi tám triệu hai trăm linh chín nghìn không trăm năm mươi ba) đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đình C1 để lại. Bị đơn là cụ Lê Thị T đang cư trú tại quận N, thành phố Hải Phòng, di sản là nhà và đất do bị đơn đang quản lý tại quận N, thành phố Hải Phòng. Đương sự trong vụ án là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đang cư trú ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 5 Điều 26; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đình K3: Tòa án đã tiến hành việc ủy thác cho cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tống đạt văn bản tố tụng và Thông báo thụ lý vụ án cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Vũ Đình K3, tuy nhiên ông K3 vắng mặt tại phiên tòa và các buổi làm việc, và cũng không có lời khai gửi về cho Tòa án. Căn cứ Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông Vũ Đình K3.

[3] Về thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế: Người để lại di sản thừa kế là cụ Vũ Đình C1 (chết ngày 15/12/2019). Nguyên đơn ông Vũ Đình K khởi kiện ngày 05/10/2023. Căn cứ khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự, Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án còn thời hiệu.

- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4] Về di sản thừa kế:

Các đương sự đều thống nhất trình bày tài sản của cụ Vũ Đình C1 và cụ Lê Thị T gồm nhà đất tại địa chỉ số B (số C), ngõ H đường L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng đã được UBND quận N cấp GCNQSDĐ số BU 567589 đối với nhà và đất tại thửa đất số 297, tờ bản đồ số LKT-08, diện tích 91,58m² đứng tên cụ Vũ Đình C1 và cụ Lê Thị T. Số tiền tiết kiệm ghi trong 16 sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng V – chi nhánh H3 (tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 4.838.209.053 đồng). Tại Văn bản số 14.11.2023/VPB ngày 11/11/2023 và văn bản số 4665/2024/CV-VPB, ngày 16/8/2024 của Ngân hàng V - Chi nhánh H3 xác nhận về 16 sổ tiết kiệm của cụ Vũ Đình C1, gửi tại Ngân hàng là đúng, tính đến ngày 14/8/2024 tiền gốc và lãi là 4.838.209.053 đồng (bốn tỷ tám trăm ba mươi tám triệu hai trăm linh chín nghìn không trăm năm mươi ba đồng). Đây là chứng cứ, những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà các đương sự đều biết và được Tòa án thừa nhận nên không phải chứng minh theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Như vậy, lời khai của các đương sự phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ xác định nhà đất tại địa chỉ số B (số C), ngõ H L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng và số tiền tiết kiệm theo 16 sổ tiết kiệm tại Ngân hàng V – chi nhánh H3 (tính đến ngày 14/8/2024, số tiền gốc và lãi tạm tính là 4.838.209.053) là tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân của cụ Vũ Đình C1 và cụ Lê Thị T.

Cụ Vũ Đình C1 chết ngày 15/12/2019, như vậy xác định di sản của cụ C1 là một nửa giá trị của khối tài sản nêu trên, cụ thể:

Theo kết quả định giá, tổng giá trị các tài sản nhà đất tại địa chỉ số B (số C) ngõ H L có giá trị là: 5.384.060.000 đồng (Năm tỷ ba trăm tám mươi tư triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng).

16 sổ tiết kiệm tạm tính đến ngày 14/8/2024 số tiền gốc và lãi tạm tính là 4.838.209.053 (bốn tỷ tám trăm ba mươi tám triệu hai trăm linh chín nghìn không trăm năm mươi ba) đồng.

Như vậy, di sản của cụ Vũ Đình C1 được xác định gồm 50% giá trị của nhà đất tại địa chỉ số B (số C) ngõ H L (tương ứng với số tiền 2.692.030.000 đồng), và 50% giá trị của 16 sổ tiết kiệm (tương ứng với số tiền 2.419.104.527 đồng).

[5] Cụ Vũ Đình C1 chết không để lại di chúc nên di sản của cụ C1 được chia theo quy định pháp luật.

[6] Về diện và hàng thừa kế:

Cụ Vũ Đình C1 chết năm 2019, các đương sự thống nhất trình bày cụ C1 và cụ T có 05 người con là: Vũ Đình Đ, Vũ Đình K1, Vũ Đình K3, Vũ Đình K và Vũ Thị H1.

Trong đó bà Vũ Thị H1 chết ngày 14/02/1995 (chết trước cụ Vũ Đình C1). Căn cứ Điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2015 về Thừa kế thế vị, các con của bà Vũ Thị H1 là các anh chị: Cindy Duong, Catherine D2, Duong L, Duong N, Duong Quoc P được hưởng suất thừa kế của bà Vũ Thị H1.

Như vậy hàng thừa kế thứ nhất của cụ Vũ Đình C1 xác định gồm 06 người: Cụ Lê Thị T, ông Vũ Đình Đ, ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình K3, ông Vũ Đình K và bà Vũ Thị H1 (các anh chị: Cindy Duong, Catherine D2, Duong L, Duong N, Duong Quoc P thế vị).

[7] Về kết quả ủy thác tư pháp:

Trong vụ án có đương sự là ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình Đ, ông Vũ Đình K3 và các con của bà Vũ Thị H1 đang cư trú ở nước ngoài.

Tòa án đã tiến hành ủy thác cho Đ2 ở Hoa Kỳ và Úc để tống đạt văn bản tố tụng cho ông Vũ Đình K1, Vũ Đình Đ, Vũ Đình K3; giao văn bản tố tụng cho ông DUONG DON (Dương Quốc C) là chồng của bà Vũ Thị H1 để tống đạt văn bản cho các con của bà Vũ Thị H1.

Ông Vũ Đình K1 và Vũ Đình Đ và các con của bà Vũ Thị H1 đã có quan điểm gửi Tòa án.

Ông Vũ Đình K3 vắng mặt tại các buổi hòa giải và tại phiên tòa lần thứ nhất, không có quan điểm gửi Tòa án. Sau phiên tòa lần đầu, Tòa án đã có Công văn đề nghị Đ2 tại Hoa Kỳ trả lời về kết quả tống đạt cho ông Vũ Đình K3 nhưng chưa có kết quả trả lời.

Căn cứ Án Lệ số 06/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:

Trong vụ án tranh chấp thừa kế có người thuộc diện thừa kế ở nước ngoài, nếu Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp, thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của những người đó thì Tòa án vẫn giải quyết yêu cầu của nguyên đơn; nếu xác định được di sản thừa kế, diện hàng thừa kế và người để lại di sản thừa kế không có di chúc thì giải quyết việc chia thừa kế cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật; phần tài sản thừa kế của những người vắng mặt, không xác định được địa chỉ sẽ tạm giao cho những người sống trong nước quản lý để sau này giao lại cho những thừa kế vắng mặt.

Như vậy, phần tài sản thừa kế ông Vũ Đình K3 được hưởng sẽ được tạm giao cho cụ Lê Thị T hoặc ông Vũ Đình K quản lý, để sau này giao lại cho ông Vũ Đình K3.

[8] Về việc phân chia di sản thừa kế của cụ C1:

Đối với di sản là nhà đất tại số B (số cũ 21) ngõ H L: Sau khi cụ C1 chết, cụ Lê Thị T tiếp tục là người quản lý di sản là nhà đất tại địa chỉ 23 (số cũ B) ngõ H L. Vì vậy, ngoài suất thừa kế được chia theo pháp luật, cụ T còn được hưởng phần công sức gìn giữ, tôn tạo di sản tương ứng với 01 suất thừa kế.

Đối với số tiền tại 16 sổ tiết kiệm, sẽ được chia đều cho 06 người hàng thừa kế của cụ C1.

Các đồng thừa kế là ông Đ, ông K, ông K1, và các con của bà H1 đều có quan điểm thống nhất đối với di sản là nhà đất tại địa chỉ B (số cũ B) ngõ H L sẽ giao cho cụ Lê Thị T quản lý, cụ T có trách nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế. Xét quan điểm này của các đương sự phù hợp với thực tế sử dụng nên chấp nhận.

Đối với đồng thừa kế là ông Vũ Đình K3. Do ông K3 hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có quan điểm về yêu cầu chia thừa kế của cụ Vũ Đình C1 gửi Tòa án. Như vậy, phần di sản của ông K3 sẽ tạm giao cho cụ Lê Thị T quản lý, sau này cụ T sẽ có nghĩa vụ giao lại cho ông Vũ Đình K3.

Như vậy, di sản của cụ Vũ Đình C1 sẽ được phân chia như sau:

Đối với di sản là 50% giá trị nhà, đất tại địa chỉ 23 (số C) ngõ H L, (tương ứng với số tiền 2.692.030.000 đồng) sẽ được chia làm 07 suất, trong đó cụ T được 02 suất tương ứng số tiền 769.151.428 (làm tròn), các đồng thừa kế ông K, ông Đ, ông K3, ông K1 và các con bà H1 được 01 phần tương ứng 384.575.714 đồng (làm tròn). Do các đồng thừa kế có nguyện vọng giao nhà cho cụ T quản lý, vì vậy cụ T có nghĩa vụ thanh toán giá trị cho các đồng thừa kế, ông K, ông Đ, ông K3, ông K1, các con của bà H1 mỗi người 384.575.714 đồng.

Đối với di sản là 50% giá trị của 16 sổ tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP V (tương ứng với số tiền 2.419.104.527 đồng), sẽ được chia làm 06 phần, trong đó mỗi đồng thừa kế sẽ được hưởng 01 phần tương ứng với số tiền 403.184.087 đồng (làm tròn).

[9] Số tiền lãi suất phát sinh của số tiền gửi tiết kiệm từ ngày 14/8/2024 đến khi thi hành án, các đương sự thống nhất giao toàn bộ cho cụ Lê Thị T. Hội đồng xét xử xét thấy Thoả thuận của các đương sự là tự nguyện không trái quy định pháp luật nên chấp nhận.

[10] Về chi phí ủy thác tống đạt ra nước ngoài: Nguyên đơn đề nghị chịu cả chi phí ủy thác tống đạt ra nước ngoài và đã nộp đủ chi phí này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì những người được hưởng di sản thừa kế phải nộp án phí theo quy định. Cụ Lê Thị T, ông Vũ Đình Đ, ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình K3 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Vũ Đình K và các anh, chị: Cindy Duong, Catherine D2, Duong L, Duong N, Duong Quoc P phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào theo quy định tại khoản 5 Điều 26, Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273, Điều 469, Điều 470, Điều 476, Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật Dân sự

Áp dụng Án Lệ số 06/2016/AL ngày 06/4/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Đình K về việc chia di sản thừa kế của cụ Vũ Đình C1 đối với nhà và đất tại số B (số C) ngõ H đường L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH15642, thửa đất số 297, tờ bản đồ LKT-08; diện tích đất ở 91,58 m²; diện tích xây dựng: 80,3 m²; diện tích sàn: 240,9 m² và số tiền trong 16 sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng TMCP V, chi nhánh H3.
  2. Chia cho cụ Lê Thị T số tiền 2.822.288.613 đồng.

    Chia cho ông Vũ Đình Đ, ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình K3, ông Vũ Đình K và bà Vũ Thị H1 (các anh chị: Cindy Duong, Catherine D2, Duong L, Duong N, D) mỗi người 403.184.087đồng (làm tròn) là số tiền gốc và lãi trong 16 sổ tiết kiệm tại Ngân hàng tạm tính đến ngày 14/8/2024.

    Giao cụ Lê Thị T quản lý toàn bộ diện tích đất ở 91,58 m²; diện tích xây dựng: 80,3 m²; diện tích sàn: 240,9 m² tại số B (số C) ngõ H đường L, phường L (nay là phường C), quận N, thành phố Hải Phòng.

    Cụ Lê Thị T có nghĩa vụ thanh toán giá trị cho các đồng thừa kế ông Vũ Đình Đ, ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình K3, ông Vũ Đình K và các con của bà Vũ Thị H1 (gồm anh chị: Cindy Duong, Catherine D2, Duong L, Duong N, D) mỗi người 384.575.714 đồng (làm tròn).

    Tạm giao phần tài sản thừa kế của Ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình Đ, và các con của bà Vũ Thị H1 được hưởng cho ông Vũ Đình K quản lý. Ông K sẽ có trách nhiệm giao lại khi các Ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình Đ, và các con của bà Vũ Thị H1 về nước.

    Tạm giao phần tài sản thừa kế ông Vũ Đình K3 được hưởng cho cụ Lê Thị T quản lý. Cụ T sẽ có trách nhiệm giao lại cho ông K3 khi ông K3 về nước.

    Giao cho cụ Lê Thị T toàn bộ số tiền lãi suất phát sinh đối với số tiền gửi trong 16 sổ tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP V tính từ ngày 14/8/2024 đến khi thi hành án.

    Ngân Hàng TMCP V, chi nhánh H3 căn cứ quyết định của bản án để thực hiện các giao dịch theo quy định pháp luật.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Lê Thị T, ông Vũ Đình Đ, ông Vũ Đình K1, ông Vũ Đình K3.
  4. Ông Vũ Đình K phải nộp 35.510.392 đồng (ba mươi năm triệu năm trăm mười nghìn ba trăm chín mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 12.888.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000362 ngày 17/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Ông K còn phải nộp 22.622.392 đồng.

    Các anh chị: Cindy Duong, Catherine D2, Duong L, Duong N, Duong Quoc P mỗi người phải nộp 7.102.078 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Ông Vũ Đình K3 có quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lưu Văn Tỉnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 83/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger