Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

Bản án số: 83/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 27-12-2023

V/v “Tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trịnh Thị Lệ Hoa
  2. Bà Nguyễn Thị Tĩnh

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 376/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023, và Quyết định hoãn phiên tòa số 55 ngày 12 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Lan T, sinh năm 1973
  2. Địa chỉ: Số 301/1 Phạm Văn N, phường TK, thành phố T, tỉnh Long An. (có đơn xin vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1967
  4. Địa chỉ: Số 301/1 Phạm Văn N, phường TK, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2023, nguyên đơn bà Ngô Thị Lan T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hữu T1 tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường KH, thành phố T, vào ngày 29 tháng 10 năm 2001. Sau khi đám cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian phát sinh mâu thuẫn, tính tình không hòa hợp nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân là do ông T1 không quan tâm đến gia đình, thường xuyên ghen tuông đi làm không phụ bà về kinh tế. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2023 cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, các con chung đã trưởng thành và có gia đình riêng, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn với ông T1.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hữu C, sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1994 đã trưởng thành.

Về tài sản chung: Các bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hữu T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các Đơn khởi kiện, Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông T1 không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Ông T1 đã nhận các giấy tờ nhưng cũng không đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra chứng cứ và phiên hòa giải. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, vị đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An nhận định quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, Hội đồng xét xử đều tuân theo qui định pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo qui định pháp luật. Bị đơn vắng mặt nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nên có căn cứ xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Ngô Thị Lan T nộp đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Hữu T1 có địa chỉ cư trú tại thành phố Tân An, tỉnh Long An nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

[1.1] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tòa án tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Lan T và ông Nguyễn Hữu T1 cưới nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Khánh Hậu, thành phố Tân An, vào ngày 29 tháng 10 năm 2001, nên quan hệ hôn nhân của bà T và ông T1 được pháp luật thừa nhận là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Ông T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà Thảo xin ly hôn với ông T1 tại Tòa án nhưng ông T1 không có ý kiến, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Bà T xác định không còn tình cảm gì với ông T1 và cương quyết ly hôn. Điều đó chứng minh quan hệ hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Thảo với ông T1.

[2.3] Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Hữu C, sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1994 đã trưởng thành, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông T1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về nợ chung: Bà T xác nhận không có, và ông T1 không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trường hợp đương sự có tranh chấp về chia tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí: Bà Ngô Thị Lan T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Lan T. xin ly hôn với ông Nguyễn Hữu T1 .

  1. Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Lan T được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T1 .
  2. Về án phí sơ thẩm: Bà Ngô Thị Lan T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0002775 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An để thi hành.
  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP. Tân An;
  • - Chi cục THADS TP. Tân An;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Phạm Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 83/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 83/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger