|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG Bản án số: 83/2021/DS-PT Ngày: 28-6-2021 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh
Các Thẩm phán: - Ông Nguyễn Văn Thiện
- Bà Bùi Thị Nguyễn
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Dự - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2021/TLPT-DS ngày 20 tháng 5 năm 2021 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 04 tháng 2 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử Phúc thẩm số: 105/2021/QĐ-PT ngày 26 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2021/QĐ-PT ngày 17/6/2021, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y, sinh năm 1983; nơi cư trú: 206/261 ấp M, thị trấn M, huyện C, tỉnh An Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y: ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1983; địa chỉ: số 477A/24 Quản Cơ Thành, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (Văn bản ủy quyền ngày 02/6/2021) - Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Trần Hữu D, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp Long T, xã Long G, huyện C, tỉnh An Giang - Có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1979; nơi cư trú: ấp Long T, xã Long G, huyện C, tỉnh An Giang – Có mặt.
- - Người kháng cáo: bị đơn Trần Hữu D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y và ông Trần Hữu D cùng công tác tại trường tiểu học “C” Long G nên quen biết nhau. Ngày 07/8/2019, ông D có nhờ bà Y vay tín chấp của Ngân hàng Bản Việt số tiền 100.000.000 đồng để cất nhà, thông qua việc dùng bảng lương của bà Y để vay tiền và trả góp hàng tháng. Cũng trong ngày 07/8/2019, ông D có làm tờ cam kết xác nhận nhờ bà Y vay tiền dùm và hàng tháng trả cho bà Y số tiền 2.471.900 đồng để bà Y trả tiền cho Ngân hàng. Sau khi vay, ông D có đưa tiền cho bà Y được 3 tháng với số tiền 7.415.700 đồng để trả cho Ngân hàng, còn lại số tiền 92.584.300 đồng thì ngưng không trả cho bà Y để bà trả nợ Ngân hàng.
Nay nguyên đơn yêu cầu ông Trần Hữu D cùng vợ là bà Huỳnh Thị T thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y số tiền 92.584.300 đồng, rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 7.415.700 đồng mà ông D đã trả cho bà Y.
Chứng cứ khởi kiện là tờ cam kết trả nợ ngày 07/8/2019 do ông Trần Hữu D ký tên.
Bị đơn ông Trần Hữu D trình bày: Trước đây do ông với bà Y cùng công tác chung trường và có mối quan hệ tình cảm cho nên ông hoàn toàn tin tưởng bà Y. Từ đó, bà Y đã tự ý vay tiền của Ngân hàng Bản Việt mà ông không hay biết. Đến khi bà Y chuyển về trường tiểu học Quang Trung, xã Long Điền B thì bà Y cung cấp giấy cam kết trả nợ giữa ông và bà Y, nội dung theo giấy cam kết thì bà Y vay Ngân hàng Bản Việt số tiền 100.000.000 đồng cho ông mượn và ông có nghĩa vụ trả nợ bằng cách trừ vào lương hàng tháng của ông. Bà Y lợi dụng tình cảm tự làm giấy cam kết trả nợ để chung với nhiều loại giấy tờ rồi đưa ông ký. Ông thừa nhận chữ ký và chữ viết Trần Hữu D trong tờ cam kết ngày 07/8/2019 là do ông ký và viết ra, vì lúc ký bà Y đưa cho ông nhiều văn bản, nên ông không nhớ hết là ký những văn bản gì và những nội dung trong văn bản. Trong khi đó hàng tháng bà Y còn lấy tiền của ông với số tiền 1.933.000 đồng để trả cho Ngân hàng Bản Việt trong nhiều năm liền cho đến khi bà Y rời khỏi đơn vị từ tháng 11/2019.
Ông và bà Huỳnh Thị T hiện nay vẫn còn là vợ chồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Y ông không đồng ý vì ông không vay tiền của bà Y.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị T trình bày: Bà và ông Trần Hữu D là vợ chồng, việc vay mượn giữa chồng bà với bà Y bà không biết, bà cũng không nghe chồng nói là có vay mượn gì của bà Y. Nay bà Y yêu cầu vợ chồng bà trả tiền bà không đồng ý vì vợ chồng bà không có vay mượn gì của bà Y.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:
- - Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 244, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, 466, 357, 288 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y.
- + Buộc ông Trần Hữu D và bà Huỳnh Thị T có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y số tiền là 92.584.300 đồng (Chín mươi hai triệu, năm trăm tám mươi bốn nghìn, ba trăm đồng).
- + Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y đối với ông Trần Hữu D và bà Huỳnh Thị T số tiền 7.415.700 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- + Ông Trần Hữu D và bà Huỳnh Thị T phải chịu 4.629.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- + Bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng theo biên lai số 0009024 ngày 15 tháng 10 năm 2020.
Ngày 18/02/2021, ông Trần Hữu D và bà Huỳnh Thị T kháng cáo đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Trần Hữu D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị T kháng cáo trong hạn luật định nên được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bị đơn là không có căn cứ. Bởi lẽ bị đơn là người có đầy đủ năng lực hành vi, lại là giáo viên đang trực tiếp giảng dạy nên hơn ai hết ông D nhận biết rõ hành vi của mình. Quá trình giải quyết tranh chấp bị đơn không cung cấp được chứng cứ thể hiện mình bị nhầm lẫn, ép buộc ký vào giấy nhận nợ. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Việc ông D cho rằng ông cam kết trả nợ hàng tháng nhưng cấp sơ thẩm buộc trả 1 lần là không đúng. HĐXX thấy rằng ông D đã vi phạm cam kết trả nợ hàng tháng nên nguyên đơn yêu cầu thanh toán trước thời hạn phù hợp với điều 428 Bộ luật dân sự nên cấp sơ thẩm buộc thanh toán theo yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Hữu D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị T. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 08/2021/DS-ST ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y. Buộc ông Trần Hữu D và bà Huỳnh Thị T có trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hoàng Phi Y số tiền là 92.584.300 đồng.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Trần Hữu D và bà Huỳnh Thị T mỗi người phải chịu án phí phúc thẩm dân sự 300.000 đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh An Giang; - Phòng KTNV và THA; - TAND huyện C; - THA huyện C; - Văn phòng; - Tòa dân sự; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Ngọc Linh |
Bản án số 83/2021/DS-PT ngày 28/06/2021 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 83/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hoàng Phi Yến và Trần Hữu Dũng "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
