|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 82a/2024/DS-ST Ngày: 17/6/2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Quốc Tiến
2. Bà Nguyễn Thị Phượng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tèo – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án huyện C, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 912/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 166/2024/QĐXXST-DS ngày 16/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 222/2024/QÐST-DS ngày 15/5/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 62/2024/QÐST-DS ngày 06/6/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thu H, sinh năm 1972 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ H, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
* Bị đơn: Ông Đỗ Hữu H1, sinh năm 1972 (có mặt);
Địa chỉ: Số A, tổ H, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trang Thị S, sinh năm 1943;
- Bà Đỗ Thị Ú, sinh năm 1972;
- Anh Đỗ Thanh H2, sinh năm 1995;
- Anh Đỗ Hữu P, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Số A, tổ H, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trang Thị S, Đỗ Thị Ú, Đỗ Hữu P là ông Đỗ Thanh H2, sinh năm 1995 và Đỗ Hữu H1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số A, tổ H, ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo văn bản ủy quyền ngày 20/12/2023.
- Ngân hàng N1 – CN huyện C (vắng mặt);
Địa chỉ: QL C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thu H trình bày: Bà già bà H là bà Đỗ Thị N (sinh năm 1936) cất nhà ở đây trên phần đất địa chủ vào năm 1960, tiếp giáp đất của chú bà H là ông Đỗ Hữu T (cha Đỗ Hữu H1; em ruột Đỗ Thị N), diện tích sử dụng (chiều ngang tiếp giáp với lộ nông thôn 5 mét, chiều vô 26 mét, chiều ngang phía sau 8 mét, tính ra 26 m x 6,5 m) 169 m² thuộc một phần của thửa 123, tờ bản đồ số 9, diện tích 3.694m², trong đó 400m² đất thổ, ông Đỗ Hữu H1 được cấp quyền sử dụng đất ngày 07/7/2005. Bà H cùng mẹ bà H ở chung căn nhà này từ khi còn nhỏ cho đến nay, đến năm 2022 bà già bà H chết, năm 2023 bà H đi đăng ký quyền sử dụng đất thì được Chi Nhánh V ĐKĐĐ HCL trả lời Công văn số 5949/CNVPĐKĐĐHCL- KTĐC ngày 04/5/2023 trả lời ông Đỗ Hữu H1, không thống nhất vị trí ranh đất. Bà H yêu cầu UBND xã M giải quyết, tại biên bản hoà giải bắt đầu từ 9 giờ 30 phút ngày 27/7/2023 của Hội đồng hoà giải Xã giải quyết ông đồng ý thống nhất chuyển quyền sử dụng đất cho bà H theo vị trí nhà bà H đang ở và chỉ đồng ý cho lối đi từ lộ nông thôn vào nhà có chiều ngang là 2 mét. Kết luận Hội đồng hoà giải Xã: thống nhất sự thoả thuận ông Đỗ Hữu H1 làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất lại cho bà H theo vị trí nhà bà H đang ở. Ông Đỗ Hữu H1 trả lại lối đi từ lộ nông thôn vào nhà theo thoả thuận. Đất bà H và mẹ bà H cất nhà ở đây trên 60 năm, nhưng ngày 18/5/2004, ông Đỗ Hữu H1 gửi đơn đến UBND xã M xin đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được UBND xã M xác nhận “Đất hợp pháp đủ điều kiện đổi giấy" là không đúng quy định Luật đất đai năm 2003.
Nay bà H yêu cầu Toà án dân huyện C xem xét giải quyết:
- Điều chỉnh một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đỗ Hữu H1 vào ngày 07/7/2005. Vì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 123, tờ bản đồ số 9 diện tích 3.694m², trong đó 400m² đất thổ cho ông Đỗ Hữu H1 là không có căn cứ pháp lý.
- Buộc ông Đỗ Hữu H1 giao lại toàn bộ diện tích đất 169m², thửa 123, tờ bản đồ số 9 tại nhà bà H đang ở tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Tại phiên tòa xét xử, bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh giải quyết: Công nhận cho bà phần diện tích đất đo đạc thực tế 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ
bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K. Ngoài ra, bà không trình bày và yêu cầu gì khác.
Bà thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2023 và ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh; Sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K.
Về giá trị bà và các đương sự thống nhất giá trị đất đang tranh chấp là 300.000 đồng/ 01 m², mục đích sử dụng là loại đất ONT; căn nhà của bà H xây dựng trên 30 năm có kết cấu, khung gỗ tạp, vách lá gỗ tạp, lợp tol sóng tròn, nền đất có giá trị là 15.000.000 đồng. 01 phần hàng rào do ông H1 xây dựng năm 2015 có chiều dài khoảng 4.2m có xây gạch lên khoảng 50cm, có trụ bê tông, có dán gạch men có giá trị là 3.000.000 đồng.
* Ông Đỗ Hữu H1 là bị đơn, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Trang Thị S, Đỗ Thị Ú, Đỗ Hữu P trình bày: Nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là do cha mẹ ông để lại, trước đây vào năm 1960, cha mẹ ông có cho bà Đỗ Thị N mượn đất, bà N có cất nhà ở ngang 4m, dải 10m; Sau đó, cha mẹ ông cho ông toàn bộ diện tích 3.694m², trong đó có nhà của bà N, nhưng gia đình ông vẫn để cho bà N ở trên phần đất đó. Đến năm 1997, bà N có xin ông cơi nới, sửa chữa, nhà của bà N được nới rộng thêm ngang 4,2m, dài 11,5m (Lúc này bà N có hứa với ông chừng nào bà chết sẽ trả lại toàn bộ đất cho ông). Năm 2022, bà N chết, bà Huỳnh Thu H (con gái) tiếp tục ở căn nhà của bà N. Tháng 5/2023, bà H đi đăng ký quyển sử dụng đất, nhưng ông không đồng ý ký giáp ranh vì bà H lấn qua đất của ông. Tháng 7/2023, bà H gửi đơn đến UBND xã M yêu cầu hoà giải tranh chấp đất với ông. Ngày 27/7/2023 tại buổi hoà giải của UBND xã M ông và bà H đã không thống nhất các nội dung bà H yêu cầu. Hiện nay thửa đất đang tranh chấp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông và ông đang thế chấp tại Ngân hàng N2 – chi nhánh huyện C.
Ông yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết:
- Ông chỉ thừa nhận phần diện tích đất bà H đang sử dụng hiện tại là ngang 4,2m, dài 11,5m (mục dích sử dụng cây lâu năm) trên phần diện tích đất hợp pháp đã được cấp cho hộ gia đình của ông.
Hiện nay hộ gia đình ông đã được cấp Giấy CNQSD đất diện tích 3.694m² (số 00170QSD Đ/1700/QĐUB, do UBND huyện C cấp ngày 07/7/2005). Ông H1 xác định quyền sử dụng đất của ông hiện đang thế chấp tại Ngân hàng N2 – chi nhánh huyện C.
Tại các phiên hòa giải, ông H1 có ý kiến trình bày: Ông đồng ý giao phần đất cho bà H theo hiện trạng căn nhà tức là khu vực vị trí theo hiện trạng căn nhà kéo thẳng ra lộ theo 02 mốc tính từ mí hàng rào giáp với ông T1 là Mốc 1 kéo qua cây xoài là 3m là mốc 2 và ông đồng ý giao phần đất này cho bà H được tiếp tục quản lý sử dụng, đứng tên quyền sử dụng đất. Đối với lối đi giáp với mặt lộ thì tính từ mí hàng rào của ông T1 kéo sang đến cây X là 03m. Ông sẽ tự nguyện
di dời hàng rào và miếu T2. Ngoài ra, ông không yêu cầu và trình bày gì thêm.
Tại phiên tòa xét xử, ông H1 trình bày: ông thống nhất theo nội dung khởi kiện của nguyên đơn. Ông đồng ý giao cho bà Huỳnh Thu H phần diện tích đất đo đạc thực tế 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K và ông sẽ tự nguyện di dời hàng rào và miếu T2. Ngoài ra, ông không trình bày và yêu cầu gì khác. Đối với quyền sử dụng đất mà ông đang thế chấp tại Ngân hàng N2 – chi nhánh huyện C thì ông cam kết sẽ tất toán khoản vay và xóa thế chấp trong thời gian sớm nhất để tạo điều kiện thực hiện thủ tục hành chính cho bà H được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ông thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2023 và ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh; Sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K. Đồng thời, ông thống nhất giá trị đất đang tranh chấp là 300.000 đồng/01 m², mục đích sử dụng là loại đất ONT; căn nhà của bà H xây dựng trên 30 năm có kết cấu, khung gỗ tạp, vách lá gỗ tạp, lợp tol sóng tròn, nền đất có giá trị là 15.000.000 đồng. 01 phần hàng rào do ông H1 xây dựng năm 2015 có chiều dài khoảng 4.2m có xây gạch lên khoảng 50cm, có trụ bê tông, có dán gạch men có giá trị là 3.000.000 đồng.
* Ông Đỗ Thanh H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Trang Thị S, Đỗ Thị Ú, Đỗ Hữu P trình bày:
Anh H2 thống nhất với ý kiến trình bày của ông H1 về việc đồng ý giao cho bà Huỳnh Thu H phần diện tích đất đo đạc thực tế 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K và anh sẽ tự nguyện di dời hàng rào và miếu T2. Ngoài ra, anh không yêu cầu và trình bày gì thêm.
Anh thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2023 và ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh; Sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K. Đồng thời, ông thống nhất giá trị đất đang tranh chấp là 300.000 đồng/ 01 m², mục đích sử dụng là loại đất ONT; căn nhà của bà H xây dựng trên 30 năm có kết cấu, khung gỗ tạp, vách lá gỗ tạp, lợp tol sóng tròn, nền đất có giá trị là 15.000.000 đồng. 01 phần hàng rào do ông H1 xây dựng năm 2015 có chiều dài khoảng 4.2m có xây gạch lên khoảng 50cm, có trụ bê tông, có dán gạch men có giá trị là 3.000.000 đồng.
* Ngân hàng N2 – chi nhánh huyện C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có yêu cầu gì trong vụ án này.
* Ngoài ra, các đương sự không tranh chấp thêm vấn đề gì khác, các đương sự khẳng định ngoài các chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án, không ai cung
cấp thêm chứng cứ, hay người làm chứng nào khác, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp cho Tòa án:
- Nguyên đơn cung cấp, tài liệu chứng cứ: Căn cước công dân của nguyên đơn (bản photo); Biên bản hòa giải đề ngày 27/7/2023 (bản sao); Công văn số 5449/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 04/5/2023 (bản photo); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Đỗ Hữu H1 (bản photo); Công văn số 14744/CNVPĐKĐĐHCL-CCTT ngày 26/9/2023 + trích lục bản đồ địa chính (bản chính); Đơn yêu cầu xem xét thẩm định tại chỗ; Hợp đồng đo đạc; Biên bản nghiệm thu và thanh lý hợp đồng đo đạc (bản chính);
- Bị đơn cung cấp tài liệu, chứng cứ: Hợp đồng ủy quyền đề ngày 20/12/2023 (bản chính); Bản trình bày ý kiến; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Đỗ Hữu H1 (Bản photo);
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công văn số 106/NHNo.CL-KH ngày 17/6/2024;
- Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ gồm: Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2023 và ngày 07/12/2023; Sơ đồ đo đạc ngày 07/12/2023 của Trung tâm K;
* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự đã thống nhất:
- Về nguồn gốc đất là do ông bà để lại, trước đây vào năm 1960, cha mẹ ông H1 có cho bà Đỗ Thị N ở trên phần đất này, bà N có cất nhà ở ngang 4m, dải 10m; Sau đó, cha mẹ ông cho ông toàn bộ diện tích 3.694m², trong đó có nhà của bà N.
- Về nội dung vụ án: Các đương sự thống nhất phần diện tích đất đo đạc thực tế 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K giao cho bà Huỳnh Thu H tiếp tục quản lý sử dụng.
- Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2023 và ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.
- Sơ đồ đo đạc ngày 07/12/2023 của Trung tâm K.
- Về giá trị các đương sự thống nhất giá trị đất đang tranh chấp là 300.000 đồng/ 01 m², mục đích sử dụng là loại đất ONT; căn nhà của bà H xây dựng trên 30 năm có kết cấu, khung gỗ tạp, vách lá gỗ tạp, lợp tol sóng tròn, nền đất có giá trị là 15.000.000 đồng. 01 phần hàng rào do ông H1 xây dựng năm 2015 có chiều dài khoảng 4.2m có xây gạch lên khoảng 50cm, có trụ bê tông, có dán gạch men có giá trị là 3.000.000 đồng.
* Các tình tiết của vụ án các bên đương sự không thống nhất: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đầy đủ và đúng quy định pháp luật. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đại diện Ngân hàng N1 – CN huyện C được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp nên không kiến nghị gì.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy, tại phiên tòa các đương sự đã thống nhất toàn bộ nội dung vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Huỳnh Thu H yêu cầu công nhận cho bà phần diện tích đất đo đạc thực tế là 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K. Ngoài ra, bà không trình bày và yêu cầu gì khác. Căn cứ vào Điều 166 của Bộ luật Dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
[2] Về thẩm quyền: Xét thấy, tranh chấp quyền sử dụng đất giữa các đương sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 203 của Luật Đất đai. Đồng thời, phần đất tranh chấp tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật Dân sự.
[4] Về sự có mặt của đương sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đại diện Ngân hàng N1 – CN huyện C đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đại diện Ngân hàng N1 – CN huyện C theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về nội dung vụ án: Theo đơn khởi kiện, bà H xác định mẹ của bà H là bà Đỗ Thị N (sinh năm 1936) cất nhà ở đây trên phần đất địa chủ vào năm 1960, tiếp giáp đất của chú bà H là ông Đỗ Hữu T (cha Đỗ Hữu H1; em ruột Đỗ
Thị N), diện tích sử dụng (chiều ngang tiếp giáp với lộ nông thôn 5 mét, chiều vô 26 mét, chiều ngang phía sau 8 mét, tính ra 26 m x 6,5 m) 169 m² thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9 tại nhà bà H đang ở tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Bà H cùng mẹ bà H ở chung căn nhà này từ khi còn nhỏ cho đến nay. Nay, bà H yêu cầu ông Đỗ Hữu H1 giao lại toàn bộ diện tích đất 169m² thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9 tại nhà bà H đang ở tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và yêu cầu công nhận cho bà phần diện tích đất có khu vực vị trí theo hiện trạng căn nhà kéo thẳng giáp luôn phần đất giáp với ông T1, từ đó theo hàng rào kéo thẳng ra lộ theo 02 mốc tính từ mí hàng rào giáp với ông T1 là Mốc 1 kéo qua cây xoài là 3m là mốc 2. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Huỳnh Thu H yêu cầu công nhận cho bà phần diện tích đất đo đạc thực tế là 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K.
Tại phiên tòa, ông H1 và anh H2 thống nhất theo nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng ý giao cho bà H trực tiếp quản lý sử dụng đối với diện tích đất đo đạc thực tế là 91,2 m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K và sẽ tự nguyện di dời hàng rào và miếu T2.
Xét nội dung trình bày của các đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Về nguồn gốc đất cũng như quá trình sử dụng đất các bên đã thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trước đây vào năm 1960, cha mẹ ông có cho bà Đỗ Thị N mượn đất, bà N có cất nhà ở ngang 4m, dải 10m; Sau đó, cha mẹ ông cho ông toàn bộ diện tích 3.694m², trong đó có nhà của bà N, nhưng gia đình ông vẫn để cho bà N ở trên phần đất đó. Đến năm 1997, bà N có xin ông cơi nới, sửa chữa, nhà của bà N được nới rộng thêm ngang 4,2m, dài 11,5m (Lúc này bà N có hứa với ông chừng nào bà chết sẽ trả lại toàn bộ đất cho ông). Năm 2022, bà N chết, bà Huỳnh Thu H (con gái) tiếp tục ở căn nhà của bà N là sự thật, bởi lẽ: các đương sự trong vụ án đều thừa nhận nguồn gốc phần đất đang tranh chấp là của ông bà cha mẹ của ông H1 chết để lại. Diện tích đất này hiện do ông H1 đứng tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích là 3.694m² thửa 123, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp theo số 00170QSD Đ/1700/QĐUB, do UBND huyện C cấp ngày 07/7/2005. Phần đất tranh chấp có diện tích đất đo đạc thực tế là 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc một phần của thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K. Hơn nữa, tại phiên tòa ông H1 và anh H2 đồng ý giao phần đất này cho bà H tiếp tục quản lý sử dụng và sẽ tự nguyện di dời hàng rào và miếu T2.
Xét thấy, tại phiên tòa các đương sự đã thống nhất toàn bộ nội dung vụ án và không trái với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.
* Đối với vật kiến trúc có trên đất gồm một phần hàng gào và miễu thờ ông H1 tự nguyện di dời và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa giữa bà Huỳnh Thu H với ông Đỗ Hữu H1, anh Đỗ Thanh H2.
[7] Về án phí: Tại phiên tòa, phía nguyên đơn bà Huỳnh Thu H tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.268.000đ (Hai triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng) sau khi khấu trừ số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án mà bà H đã nộp là 380.000 đồng (Ba trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004623 ngày 19/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy, số tiền án phí dân sự sơ thẩm bà H phải nộp là 1.888.000đ (Một triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng). Xét thấy, nội dung yêu cầu của bà H là tự nguyện và không trái với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Tổng số tiền là 5.642.901 đồng bà Huỳnh Thu H tự nguyện chịu và đã chi xong.
[9] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện Cao Lãnh là có căn cứ và phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 166, 203 của Luật đất đai;
Căn cứ vào Điều 155 của Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
- Công nhận cho bà Huỳnh Thu H được quyền quản lý, sử dụng phần đất có diện tích đất đo đạc thực tế là 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp
M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, theo sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K, trong phạm vi cụ thể như sau:
- + Từ mốc M4 đến mốc M19 có chiều dài 19,35m.
- + Từ mốc M19 đến mốc M20 có chiều dài 6,48m.
- + Từ mốc M20 đến mốc M6 có chiều dài 16,37m.
- + Từ mốc M6 đến mốc M5 có chiều dài 3,24m.
- + Từ mốc M5 đến mốc M4 có chiều dài 3,16m.
- Đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về đất đai thu hồi diện tích diện tích đất đo đạc thực tế là 91,2m² (trong phạm vi tính từ mốc M4-M19-M20-M6-M5 về M4), loại đất ONT, thuộc một phần của thửa 123, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp do UBND huyện C cấp cho hộ ông Đỗ Hữu H1 theo giấy chứng nhận số AA 462147, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00170 QSDĐ/1700/QĐ.UB cấp ngày 07/7/2005 để cấp lại cho bà Huỳnh Thu H.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/11/2023 và ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh; Sơ đồ đo đạc ngày 05/12/2023 của Trung tâm K).
- Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để kê khai, đăng ký, điều chỉnh quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Tổng số tiền là 5.642.901 đồng bà Huỳnh Thu H tự nguyện chịu và đã chi xong.
- Về án phí: Nguyên đơn bà Huỳnh Thu H tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.268.000đ (Hai triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn đồng) sau khi khấu trừ số tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án mà bà H đã nộp là 380.000 đồng (Ba trăm tám mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004623 ngày 19/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh. Như vậy, số tiền án phí dân sự sơ thẩm bà H phải nộp là 1.888.000đ (Một triệu tám trăm tám mươi tám nghìn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Cao Lãnh; - THADS huyện Cao Lãnh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trung Dũng |
Bản án số 82a/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 82a/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
