Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 82A/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13/8/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Phương

2. Bà Nông Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Thế Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đào Thị Phương D - sinh năm 1990; Nơi đăng ký thường trú: Tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Xóm Đ, xã M, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

- Bị đơn: Ông Hoàng Ngọc V - sinh năm 1985; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2024 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đào Thị Phương D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hoàng Ngọc V kết hôn ngày 31/12/2015, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến ngày 10/4/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Quá trình mâu thuẫn đã được gia đình và bản thân hai bên tự hòa giải nhưng không đạt kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ ngày 10/4/2018 đến nay. Quá trình ly thân, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được và yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là Hoàng Nguyễn D1 (Giới tính: Nam) - sinh ngày 21/11/2015. Sau khi ly hôn, ông V sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng ngày 19/6/2024, bị đơn ông Hoàng Ngọc V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Đào Thị Phương D kết hôn năm 2014, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng tháng 7/2017 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Quá trình mâu thuẫn đã được gia đình và bản thân hai bên tự hòa giải nhưng không đạt kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ ngày tháng 7/2017 đến nay. Quá trình ly thân, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được. Bà D yêu cầu ly hôn ông nhất trí.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một con chung là Hoàng Nguyễn D1 (Giới tính: Nam) - sinh ngày 21/11/2015. Sau khi ly hôn, ông sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông xác nhận trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Biên bản lấy ý kiến của con chưa thành niên của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng ngày 19/6/2024, cháu Hoàng Nguyễn D1 trình bày:

Cháu là con chung của bố Hoàng Ngọc V và mẹ là Đào Thị Phương D. Hiện cháu đang sống với bố tại tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.

Khi bố mẹ còn sống chung, cháu có thấy bố mẹ cãi nhau nhưng không biết nguyên nhân. Mẹ đã bỏ nhà đi từ năm 2017 đến nay. Mẹ vẫn thường hỏi thăm cháu nhưng do đang làm việc xa nên ít khi trực tiếp đến thăm cháu, bố là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu.

Trường hợp bố mẹ không chung sống với nhau nữa, cháu muốn sống với bố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Phương D, tuyên xử cho bà Đào Thị Phương D được ly hôn ông Hoàng Ngọc V.

Về con chung: Giao con chung Hoàng Nguyễn D1 (Giới tính: Nam) - Sinh ngày: 21/11/2015 cho ông Hoàng Ngọc V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con đối với bà Đào Thị Phương D.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều xác nhận không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

Các bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn ông Hoàng N Viện cư trú tại tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều có đơn giải quyết vắng mặt tại Tòa án. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị Phương D và ông Hoàng Ngọc V kết hôn ngày 31/12/2015, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông V là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn, bà D và ông V chung sống hòa thuận hạnh phúc đến khoảng năm 2017 - 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp. Hai vợ chồng đã hòa giải nhưng không thành. Nay bà D xác nhận tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn ông V. Ông V cũng cho rằng không thể tiếp tục chung sống với bà D nên nhất trí ly hôn.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông V chỉ tồn tại trên danh nghĩa, tình cảm yêu thương quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng nên cần cho ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng, bà D và ông V có một con chung là cháu Hoàng Nguyễn D1 (Giới tính: Nam) - Sinh ngày: 21/11/2015.

Các đương sự thống nhất sau khi ly hôn, ông V sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy ý kiến của các bên đương sự về con chung hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của con chung nên cần ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà D và ông V đều xác nhận trong quá trình chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu xin ly hôn để sung công quỹ nhà nước.

[4] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị Phương D. Xử cho bà Đào Thị Phương D được ly hôn ông Hoàng Ngọc V.

- Về con chung: Giao con chung là Hoàng Nguyễn D1 (Giới tính: Nam) - Sinh ngày: 21/11/2015 cho ông Hoàng Ngọc V trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung thành niên. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi các con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung, nợ chung: các bên đương sự đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đào Thị Phương D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước đối với yêu cầu xin ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Đào Thị Phương D đã nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001017 ngày 17/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận bà D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Hoài Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 82A/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 82A/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con Đào Thị Phương D - Hoàng Ngọc V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger