TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 829/2024/DS-PT Ngày: 18/9/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hoàng Hoa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Ông Nguyễn Ngọc Tài
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Tâm Thảo - Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 09 và 18 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 645/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 189/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4755/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 13521/2024/QĐPT-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng A. Địa chỉ trụ sở: Số B đường L, phường T, Quận B, Thành phố H. Địa chỉ: A L, Phường N, Quận J, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1994. (Theo Giấy ủy quyền tham gia tố tụng số 918/GUQ-NHNo.LTK-KTNB và số 914/GUQ-NHNo.LTK-KTNB ngày 15/6/2023 của Ngân hàng A - Chi nhánh L) (có mặt)
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1961. Địa chỉ: C P, Phường E, quận T, Thành phố H.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nhân Thị Kim O, sinh năm 1960. Địa chỉ: I N, Phường E, quận B, Thành phố H. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 10376, quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/11/2023 của Phòng Công chứng F). (có mặt)
2. Bà Phạm Thị Mỹ L, sinh năm 1963. Địa chỉ: D N, Phường E, quận P, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nhân Thị Kim O, sinh năm: 1960, (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 10412, quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 27/11/2023 của Phòng Công chứng F). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1991
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nhân Thị Kim O, sinh năm: 1960. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 10291, quyển số 11/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/11/2023 của Phòng Công chứng F) (có mặt)
2. Bà Phạm Nhân Thùy D, sinh năm 1985 (có mặt)
3. Ông Phạm Nhân Duy Q, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: I N, Phường E, quận B, Thành phố H.
- Người kháng cáo: bà Phạm Thị Mỹ L, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện cùng ngày 15/6/2023 và các bản tự khai ngày của nguyên đơn Ngân hàng A có ông Phạm Văn C đại diện trình bày:
Ngày 28/10/2022 Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn T có ký Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201002. Ông T vay số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất 10,5%/năm; Lãi suất đã điều chỉnh là: 11,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả: 10%/năm. Mục đích sử dụng tiền vay: Bù đắp tiền mua đất ở. Thời hạn vay 12 tháng. Ngày 18/11/2022 Ngân hàng có ký với bà Phạm Thị Mỹ L Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201081. Bà L vay số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là: 11,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả: 10%/năm.
Để đảm bảo 02 khoản vay trên ngày 04/02/2021 bà Lê Thị Thanh T1 đã ký Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-202100126 và ngày 17/11/2022 bà T1 ký tiếp Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-202200926 với Ngân hàng. Theo đó, thế chấp quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33) toạ lạc Số I N, Phường E, Quận B, Tp. H do bà Lê Thị Thanh T1 là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận số 704/2007/GCN do Ủy ban nhân dân quận B, cấp ngày 05/6/2007, công chứng tại văn phòng Công chứng X – Tp. H (số công chứng 00967, quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD và số công chứng 05404, quyển số 11/2022 TP/CC- SCC/HĐGĐ); Đăng ký giao dịch bảo đảm chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Quận B, Thành phố H ngày 04/02/2021 và ngày 17/11/2022.
Sau khi Ngân hàng giải chấp thì phía ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L đã vi phạm cam kết trả nợ trong hợp đồng tín dụng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét giải quyết:
Buộc ông Nguyễn Văn T thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc tạm tính đến ngày xét xử là: Tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng; Tiền lãi: 348.794.521 đồng; Tiền lãi quá hạn: 61.465.753 đồng; Tiền lãi chậm trả: 7.200.863 đồng.
Buộc bà Phạm Thị Mỹ L thanh toán toàn bộ số tiền nợ tạm tính đến ngày xét xử là: Tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng; Tiền lãi: 339.123.288 đồng; Tiền lãi quá hạn: 55.712.329 đồng; Tiền lãi chậm trả: 6.768.189 đồng.
Và toàn bộ số tiền lãi, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, phí phạt theo lãi suất đã thoả thuận và phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết đến ngày tất toán nợ vay.
Trường hợp Ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L không thanh toán hoặc trả nhưng không đầy đủ. Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L cùng có đại diện hợp pháp là bà Nhân Thị Kim O trình bày: xác định ông T và bà L có ký các hợp đồng tín dụng và vay số tiền nêu trên. Tuy nhiên, bà L và ông T chỉ ký hợp đồng vay nhưng thực chất thì bà T1 mới là người sử dụng nguồn vốn này. Nay ông T và bà L đề nghị liên hệ bà T1 để giải quyết khoản vay này. Bà T1 cũng đứng tên giấy chủ quyền tài sản đã thế chấp.
Người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan bà Lê Thị Thanh T1 có đại diện theo uỷ quyền là bà Nhân Thị Kim O trình bày: Bà có ký 02 hợp đồng thế chấp tài sản như Ngân hàng trình bày. Do bà T1 đang khó khăn nên xin được trả dần khoản vay này vì thực tế bà T1 mới là người sử dụng nguồn vốn vay của Ngân hàng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 189/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Điều 463, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201002 ngày 28/10/2022 số tiền 2.421.036.209 (Hai tỷ, bốn trăm hai mươi mốt triệu, không trăm ba mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ chín) đồng. Trong đó tiền nợ gốc: 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng; Tiền lãi: 348.794.521 (Ba trăm bốn mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi mốt) đồng; Tiền lãi quá hạn: 61.465.753 (Sáu mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bảy trăm năm mươi ba) đồng; Tiền lãi chậm trả: 7.200.863 (Bảy triệu, hai trăm nghìn, tám trăm sáu mươi ba) đồng.
Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 10/7/20214 cho đến khi ông Nguyễn Văn T thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201002 ngày 28/10/2022.
- Buộc bà Phạm Thị Mỹ L có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là Ngân hàng A số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng 1603-LAV-202201081 ngày 18/11/2022 số tiền 2.401.603.806 (Hai tỷ, bốn trăm lẻ một triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn, tám trăm lẻ sáu) đồng. Trong đó tiền nợ gốc: 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng; Tiền lãi: 339.123.288 (Ba trăm ba mươi chín triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm tám mươi tám) đồng; Tiền lãi quá hạn: 55.712.329 (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm mười hai nghìn, ba trăm hai mươi chín) đồng; Tiền lãi chậm trả: 6.768.189 (Sáu triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm tám mươi chín) đồng.
Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 10/7/2024 cho đến khi bà Phạm Thị Mỹ L thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201081 ngày 18/11/2022.
- Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng A được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33, địa chỉ số I N, Phường E, quận B, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 704/2007/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 05/6/2007, được cập nhật cho bà Lê Thị Thanh T1 ngày 23/6/2016 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1603-LCP-202100126, số công chứng: 00967, quyển số: 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/02/2021 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1603-LCP-202200926, số công chứng: 05404, quyển số: 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/11/2022 tại Văn phòng Công chứng X.
- Trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có trách nhiệm hoàn trả lại các bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 704/2007/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 05/6/2007, được cập nhật cho bà Lê Thị Thanh T1 ngày 23/6/2016 cho bà Lê Thị Thanh T1.
- Ông Nguyễn Văn T bà Phạm Thị Mỹ L chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Mỗi người 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- [7.1] Ông Nguyễn Văn T chịu 80.420.724 (Tám mươi triệu, bốn trăm hai mươi nghìn, bảy trăm hai mươi bốn) đồng.
- [7.2] Bà Phạm Thị Mỹ L chịu 80.032.076 (Tám mươi triệu, không trăm ba mươi hai nghìn, không trăm bảy mươi sáu) đồng.
- [7.3] Hoàn lại Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.330.702 (Ba mươi bảy triệu, ba trăm ba mươi nghìn, bảy trăm lẻ hai) đồng, theo biên lai thu tiền số 0035549 ngày 25/10/2023 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.238.739 (Ba mươi bảy triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, bảy trăm ba mươi chín) đồng số 0035548 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.
Ngày 17/7/2024, Tòa án nhân dân Quận 10 nhận được đơn kháng cáo ghi ngày 11/7/2024 của bà Phạm Thị Mỹ L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Ngân hàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn bà Phạm Thị Mỹ L do bà Nhân Thị Kim O là người đại diện theo ủy quyền vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bà Phạm Nhân Thùy D nộp đơn kháng cáo tại phiên tòa đề nghị Tòa án xem xét giải quyết quyền lợi cho mẹ con bà, do chồng bà là ông Lê Trung N có đóng góp 360.000.000 đồng để sửa chữa căn nhà số I N, Phường E, quận B, Thành phố H do bà T1 đứng tên, nay nếu phát mãi của ngân hàng sẽ ảnh hưởng quyền lợi của bà và các con trong căn nhà đó.
Ông Nguyễn Văn T và Phạm Thị Mỹ L đều có đơn yêu cầu xin cấp phúc thẩm cho miễn giảm tiền án phí do ở cấp sơ thẩm ông bà không biết bản thân mình được quyền miễn án phí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của đương sự nằm trong hạn luật định nên hợp lệ.
- Về nội dung vụ án: nhận thấy bản án sơ thẩm đã giải quyết phù hợp với quy định pháp luật nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Mỹ L. Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Nhân Thùy D nộp đơn kháng cáo khi thời hạn kháng cáo đã hết, yêu cầu xem xét chi phí sửa chữa nhà của bà D cũng chưa từng đặt ra tại Tòa án cấp sơ thẩm nên theo quy định pháp luật không được xem xét giải quyết. Đồng thời tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L có đơn xin miễn án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn án phí theo quy định pháp luật, nên cần sửa lại án phí. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên xử: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Mỹ L. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 189/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận và trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
I/ Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Mỹ L làm trong thời hạn luật định phù hợp quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
II/ Về nội dung:
- Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Mỹ L về việc không đồng ý trả nợ hay liên đới chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng A cùng với bà Lê Thị Thanh T1 với lý do bà chỉ đứng tên vay giùm bà T1, bà không nhận tiền và không sử dụng tiền vay của ngân hàng, mọi trách nhiệm trả nợ thuộc về bà T1.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Ngày 28/10/2022, Ngân hàng A (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Nguyễn Văn T có ký Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201002. Ông T vay số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất 10,5%/năm; Lãi suất đã điều chỉnh là: 11,5%/năm từ ngày 01/01/2023. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả: 10%/năm. Mục đích sử dụng tiền vay: Bù đắp tiền mua đất ở. Thời hạn vay 12 tháng.
Ngày 18/11/2022, Ngân hàng có ký với bà Phạm Thị Mỹ L Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201081. Bà L vay số tiền 2.000.000.000 đồng, lãi suất vay tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là: 11,5%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Lãi chậm trả: 10%/năm.
Để đảm bảo 02 khoản vay trên ngày 04/02/2021 bà Lê Thị Thanh T1 đã ký Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-202100126 và ngày 17/11/2022 bà T1 ký tiếp Hợp đồng thế chấp số 1603-LCP-202200926 với Ngân hàng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại địa chỉ số I N, Phường E, quận B, Thành phố H do bà Lê Thị Thanh T1 là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận số 704/2007/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 05/6/2007, được công chứng tại văn phòng công chứng X - Thành phố H; Đăng ký giao dịch bảo đảm chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận B, Thành phố H ngày 04/02/2021 và ngày 17/11/2022.
Cấp sơ thẩm đã căn cứ khoản 5 Điều 9 Hợp đồng tín dụng và do Ngân hàng A Chi nhánh L có công văn đề nghị lựa chọn thẩm quyền giải quyết vụ án số 917/CV-NHN0.LTK-KTNB và số 915/CV-NHN0.LTK-KTNB, xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về nội dung hợp đồng: Ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Mỹ L đều xác nhận có ký hợp đồng tín dụng trên. Bà Lê Thị Thanh T1 xác nhận có ký hợp đồng thế chấp là quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33) toạ lạc tại địa chỉ số I N, Phường E, quận B, Thành phố H do bà Lê Thị Thanh T1 là chủ sở hữu. Trong trường hợp bà không trả được cho Ngân hàng thì bà đồng ý xử lý tài sản theo quy định pháp luật.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Mỹ L đã vi phạm nghĩa vụ vay, ngày 14/4/2023 Ngân hàng lập biên bản làm việc về việc thông báo khoản vay quá hạn lãi. Ngày 28/4/2023, Ngân hàng có thư mời gửi ông T, bà L, bà T1 đến Ngân hàng để làm việc về khoản vay quá hạn lãi.
Căn cứ Thông báo ngày 03/01/2023 về việc điều chỉnh lãi suất các hợp đồng tín dụng vay của bị đơn ông T, theo đó lãi suất cho vay điều chỉnh 11,5% kể từ ngày 01/1/2023 cho đến khi có thông báo mới và các quy định về mức lãi suất theo nội dung thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng tín dụng về lãi suất quá hạn được tính bằng 150% của lãi suất trong hạn là phù hợp với thỏa thuận.
Cấp sơ thẩm đã nhận định rằng và xử rằng Nguyên đơn Ngân hàng buộc các bị đơn thanh toán các khoản tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Cụ thể: Ông Nguyễn Văn T thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tạm tính từ ngày 28/10/2022 đến đến ngày xét xử 09/7/2024 là: Tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng; Tiền lãi: 348.794.521 đồng; Tiền lãi quá hạn: 61.465.753 đồng; Tiền lãi chậm trả: 10.775.935 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi ông T phải trả cho Ngân hàng tạm tính là 2.421.036.209 đồng.
Bà Phạm Thị Mỹ L thanh toán toàn bộ số tiền nợ tạm tính từ ngày 18/11/2022 đến ngày xét xử 09/7/2024 là: Tiền nợ gốc: 2.000.000.000 đồng; Tiền lãi: 339.123.288 đồng; Tiền lãi quá hạn: 55.712.329 đồng; Tiền lãi chậm trả: 6.768.189 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi mà bà L phải trả Ngân hàng tạm tính là 2.401.603.806 đồng, nên cấp phúc thẩm đã có căn cứ chấp nhận án sơ thẩm là phù hợp.
Từ căn cứ trên, nhận thấy yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Mỹ L về trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng thuộc về bà Lê Thị Thanh T1 là không có căn cứ chấp nhận mà áp dụng quy định trong hợp đồng tín dụng, xác định khi bên vay không có khả năng thanh toán thì ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp của phía thế chấp bà T1 mà thôi.
Đối với yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp, trong trường hợp các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, nhận thấy bà Lê Thị Thanh T1 đã dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để thế chấp bảo đảm khoản vay theo hợp đồng vay tín dụng là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33, địa chỉ số I N, Phường E, quận B, Thành phố H và được đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định. Bà T1 đồng ý xử lý tài sản theo quy định pháp luật. Nên việc nguyên đơn Ngân hàng có quyền đề nghị phát mãi các tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ của bị đơn là có cơ sở chấp nhận, được cấp phúc thẩm đồng quan điểm.
- Tại phiên toà phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Nhân Thùy D nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án xem xét giải quyết quyền lợi cho mẹ con bà do chồng bà là ông Lê Trung N có đóng góp 360.000.000 đồng để sửa chữa căn nhà số I N, Phường E, quận B, Thành phố H. Xét đơn kháng cáo của bà D nộp khi thời hạn kháng cáo đã hết, yêu cầu xem xét chi phí sửa chữa nhà của bà D cũng chưa từng đặt ra tại Tòa án cấp sơ thẩm nên theo quy định pháp luật Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết đơn kháng cáo này của bà D. Trường hợp sau này bà D có tranh chấp thì được giải quyết trong vụ án khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L có đơn đề nghị miễn án phí do đã trên 60 tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 25 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xét yêu cầu này có lợi cho đương sự và phù hợp với quy định pháp luật nên cần sửa bản án sơ thẩm đối với phần án phí ông T, bà L phải chịu theo tình tiết diễn biến mới tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Phạm Thị Mỹ L đã trên 60 tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 25 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. H lại cho bà L số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0020422 ngày 17/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/ NQ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2019;
Căn cứ Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự;
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị Mỹ L. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 189/2024/DS-ST ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về án phí như sau: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Buộc ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201002 ngày 28/10/2022 số tiền 2.421.036.209 (Hai tỷ, bốn trăm hai mươi mốt triệu, không trăm ba mươi sáu nghìn, hai trăm lẻ chín) đồng. Trong đó tiền nợ gốc: 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng; Tiền lãi: 348.794.521 (Ba trăm bốn mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi bốn nghìn, năm trăm hai mươi mốt) đồng; Tiền lãi quá hạn: 61.465.753 (Sáu mươi mốt triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn, bảy trăm năm mươi ba) đồng; Tiền lãi chậm trả: 7.200.863 (Bảy triệu, hai trăm nghìn, tám trăm sáu mươi ba) đồng.
Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 10/7/20214 cho đến khi ông Nguyễn Văn T thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201002 ngày 28/10/2022.
- Buộc bà Phạm Thị Mỹ L có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là Ngân hàng A số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng 1603-LAV-202201081 ngày 18/11/2022 số tiền 2.401.603.806 (Hai tỷ, bốn trăm lẻ một triệu, sáu trăm lẻ ba nghìn, tám trăm lẻ sáu) đồng. Trong đó tiền nợ gốc: 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng; Tiền lãi: 339.123.288 (Ba trăm ba mươi chín triệu, một trăm hai mươi ba nghìn, hai trăm tám mươi tám) đồng; Tiền lãi quá hạn: 55.712.329 (Năm mươi lăm triệu, bảy trăm mười hai nghìn, ba trăm hai mươi chín) đồng; Tiền lãi chậm trả: 6.768.189 (Sáu triệu, bảy trăm sáu mươi tám nghìn, một trăm tám mươi chín) đồng.
Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 10/7/2024 cho đến khi bà Phạm Thị Mỹ L thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng tín dụng số 1603-LAV-202201081 ngày 18/11/2022.
- Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Ngân hàng A được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là thửa đất số 59, tờ bản đồ số 33, địa chỉ số I N, Phường E, quận B, Thành phố H theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 704/2007/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 05/6/2007, được cập nhật cho bà Lê Thị Thanh T1 ngày 23/6/2016 theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1603-LCP-202100126, số công chứng: 00967, quyển số: 02 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/02/2021 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 1603-LCP-202200926, số công chứng: 05404, quyển số: 11/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/11/2022 tại Văn phòng Công chứng X.
- Trường hợp ông Nguyễn Văn T và bà Phạm Thị Mỹ L thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có trách nhiệm hoàn trả lại các bản chính Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 704/2007/GCN do Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 05/6/2007, được cập nhật cho bà Lê Thị Thanh T1 ngày 23/6/2016 cho bà Lê Thị Thanh T1.
- Ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Mỹ L chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (Mười triệu) đồng. Mỗi người chịu 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Do ông Nguyễn Văn T, bà Phạm Thị Mỹ L đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 25 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Hoàn lại Ngân hàng A số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.330.702 (Ba mươi bảy triệu, ba trăm ba mươi nghìn, bảy trăm lẻ hai) đồng, theo biên lai thu tiền số 0035549 ngày 25/10/2023 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.238.739 (Ba mươi bảy triệu, hai trăm ba mươi tám nghìn, bảy trăm ba mươi chín) đồng số 0035548 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Phạm Thị Mỹ L đã trên 60 tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 25 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Hoàn lại cho bà L số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0020422 ngày 17/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hoàng Hoa |
Bản án số 829/2024/DS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 829/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 829 DSPT 2024 KHONG 18-09-2024 NGAN HANG A - NGUYEN VAN T
