Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 828/2024/DS-ST

Ngày : 16/8/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thụy Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Nguyễn Minh Nam
  2. Bà Nguyễn Thị Túy Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Bùi Thị Bích Phượng - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 865/2023/TLST-DS ngày 17/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N

    Trụ sở: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội

    Đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T – Chức vụ: Tổng giám đốc

    Đại diện theo ủy quyền: Ông Bành Mạnh P, sinh năm: 1981, (Quyết định ủy quyền số 278/QĐ-NHNo.PN-TH ngày 25/01/2024)

    Địa chỉ liên hệ: A P, Phường B, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: bà Nguyễn Phương Đ, sinh năm 1997

    Địa chỉ: 5 đường số A, Phường G, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    Công ty cổ phần T4

    Trụ sở: 191 N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đình T1, sinh năm: 1972 – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc.

    Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thới Phương T2 ( Giấy ủy quyền ngày 25/01/2024)

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng N trình bày:

Ngày 05/06/2020, Ngân hàng N – Chi nhánh P1 - Phòng G (gọi tắt là Ngân hàng A2) có ký Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202000369 với bà Nguyễn Phương Đ để cho vay số tiền 2.000.000.000 đồng, với lãi suất vay 11%/năm và lãi suất sẽ được điều chỉnh 03 tháng một lần theo công thức lãi suất điều chỉnh = lãi suất cao nhất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau toàn bộ theo thông báo của bên A đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 4,7%/năm, nhưng không vượt khung lãi suất cho vay theo quy định hiện hành của Tổng giám đốc A2. Thời hạn vay: 120 tháng kể từ ngày 05/6/2020 đến hết ngày 15/6/2030. Mục đích sử dụng vốn vay: bù đắp tiền mua Căn hộ số: C3-Tầng A thuộc tòa nhà văn phòng Dự án cao ốc văn phòng và căn hộ chung cư S P, phường B, Quận T, TP . để ở. Trả nợ gốc và lãi vào ngày 15 hàng tháng.

Để bảo đảm cho khoản vay, bà Đ đã thế chấp Căn hộ chung cư số: C3.15.A (Block A, Tầng A) thuộc tòa nhà văn phòng Dự án cao ốc văn phòng và căn hộ chung cư S P, phường B, Quận T, TP. thuộc sở hữu của bà Đ. Hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202000323 ngày 05/06/2020 đã được công chứng tại Văn phòng C1, số C, quyền số: 06 TP/CC-SCC/HĐGD và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại TP. ngày 05/06/2020.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, chỉ trả cho Ngân hàng được tổng số tiền gốc 105.000.000đồng, tiền lãi 161.135.460 đồng và ngưng thanh toán đến nay mặc dù Ngân hàng đã dùng nhiều biện pháp nhắc nợ.

Tính đến ngày 16/8/2024, bà Nguyễn Phương Đ còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 2.762.066.635 đồng. Nay Ngân hàng A2 yêu cầu Tòa án buộc bà Đ phải thanh toán tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 16/8/2024 là: 2.762.066.635 đồng (nợ gốc: 1.895.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 683.544.672 đồng, nợ lãi quá hạn: 61.740.534 đồng, lãi chậm trà: 121.781.429 đồng). Buộc bà Đ phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp bà Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu của bà Đ để thu hồi nợ.

Tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng A2 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bà Nguyễn Phương Đ có trách nhiệm thanh toán tổng số tiền nợ gốc và lãi là: 2.762.066.635 đồng.

Trường hợp bà Đ không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì phát mại tài sản đảm bảo là Căn hộ chung cư số: C3.15.A (Block A, Tầng A) thuộc tòa nhà văn phòng Dự án cao ốc văn phòng và căn hộ chung cư S P, phường B, Quận T, TP. thuộc sở hữu của bà Đ để thu hồi nợ cho Ngân hàng A2.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị đơn bà Nguyễn Phương Đ vắng mặt không có lý do.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T4 trình bày:

Ngày 24/9/2015, Công ty cổ phần T4 và ông Nguyễn Hải A có ký hợp đồng mua bán lô Officeetel số: 331/HĐMB-HT để mua bán căn hộ L-Tầng A thuộc dự án cao ốc văn phòng và căn hộ C P, phường B, Quận T, giá bán là 1.359.143.675 đồng. Tổng số tiền ông A đã thanh toán theo hợp đồng là 1.331.960.801 đồng, tương đương 98% giá bán lô Officeetel.

Ngày 27/12/2017, Công ty đã bàn giao căn hộ cho ông A. Ngày 30/12/2017, căn hộ được cấp số nhà là A15.23 Block A theo Giấy chứng nhận số nhà số 1092/UBND-CN của UBND quận T.

Ngày 01/6/2020, ông Nguyễn Hải A và bà Nguyễn Thị Phương A1 (vợ ông A) đã chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ nêu trên cho bà Nguyễn Phương Đ và được Công ty T4 xác nhận theo Văn bản số 20/2020/XN-HT-SKY ngày 03/6/2020.

Từ ngày 05/6/2020 đến nay, bà Đ là chủ sở hữu căn hộ này và có trách nhiệm tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán với Công ty T4, bao gồm nghĩa vụ thanh toán cho Công ty B giá bán lô Officeetel C3-15 Block A còn lại (đã bao gồm VAT) và các khoản phí khác (nếu có) khi bà Đ nhận thông báo bàn giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Hiện tại căn hộ nêu trên vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trường hợp Tòa án tuyên Ngân hàng A2 được quyền xử lý tài sản bảo đảm đối với Lô O Block A, thì công ty T4 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Về nội dung: chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N Chi nhánh P1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Về quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng N Chi nhánh P1 và bà Nguyễn Phương Đ, là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền: căn cứ vào khoản 5 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202000369 ngày 05/06/2020 thì Ngân hàng N Chi nhánh P1 lựa chọn nơi có trụ sở chi nhánh tại địa chỉ: A P, Phường B, Quận P, Thành phố Hồ Chí Minh để khởi kiện. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về tố tụng:

Theo nội dung hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202000369 ngày 05/6/2020, bà Nguyễn Phương Đ cung cấp địa chỉ thường trú: 5 đường số A, Phường G, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường G1, quận G thì: “nhân khẩu Nguyễn Phương Đ, sinh năm: 1997 có hộ khẩu thường trú tại 5 đường số A, Phường G, Quận G, (địa chỉ mới: 29/61/22 L, phường G, quận G). Hiện tại nhân khẩu Nguyễn Phương Đ không còn cư ngụ tại địa chỉ trên, đã bán nhà chuyên đi đâu không rõ".

Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an phường B1, quận T thì: “căn hộ C3.15A thuộc Tòa nhà văn phòng số A P, phường B, Quận T. Mã căn hộ A15.23 Block A chung cư E, P, phường B, Quận T hiện tại không có ai đăng ký cư trú và thực tế cư trú".

Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa; quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn bà Nguyễn Phương Đ đều không có mặt tại phiên tòa. Tòa án cũng niêm yết thông báo kết quả phiên họp về giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ cho bị đơn theo quy định tại Khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự đã biết được chứng cứ của nhau và không có ai yêu cầu, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử xét giải quyết vụ án sơ thẩm trong phạm vi yêu cầu và các chứng cứ của đương sự giao nộp, các bên đương sự thừa nhận, không có ý kiến phản đối là đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 6, Điều 91, 92, 95, 96 và Điều 210 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án và tiến hành xét xử vắng mặt bà Đ theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung:

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202000369 ngày 05/06/2020, Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 18/6/2020 được lập và có chữ ký xác nhận giữa Ngân hàng A2 và bà Nguyễn Phương Đ, đủ cơ sở để xác định Ngân hàng A2 đã cho bà Đ vay số tiền 2.000.000.000đồng và bà Đ đã nhận đủ số tiền vay bằng phương thức giải ngân chuyển khoản cho bên thụ hưởng Nguyễn Phương Đ số tài khoản 1604205539990 tại Ngân hàng A2 Chi nhánh P1.

Căn cứ vào hợp đồng thế chấp số 1604-LCP-202000323, được Văn phòng công chứng Phan Thị Kim C chứng nhận vào ngày 05/6/2020 có số công chứng 002430 được lập và có chữ ký xác nhận giữa Ngân hàng A2 và bà Nguyễn Phương Đ, đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận, cập nhật vào cơ sở dữ liệu về biện pháp bảo đảm, đủ cơ sở để xác định bà Đ đã thế chấp quyền tài sản phát sinh từ các hợp đồng mua bán lô OFFICEETEL số: 331/HĐMB-HT ngày 24/9/2015, mã căn hộ L-Tầng 15 dự án cao ốc văn phòng căn hộ chung cư S P, phường B, Quận T, TP . giữa tập đoàn T4 và ông Nguyễn Hài A. Văn bản chuyên nhượng hợp đồng mua bán căn hộ số L-Tầng A dự án cao ốc văn phòng căn hộ chung cư S P, phường B, Quận T, TP. giữa ông Nguyễn Hải A vợ là bà Nguyễn Thị Phương A1 và bà nguyễn Phương Đ1 được Văn phòng C2 chứng nhận, số công chứng 003373, quyền số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2020 đối với loại căn hộ: mã lô officeetel: C3-15, tầng Block A dự án Sky center (A15.23); Diện tích sử dụng 32,88m²; Diện tích xây dựng 36,44m² để đảm bảo cho khoản vay 2.000.000.000đồng tại Ngân hàng A2.

Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202000369 ngày 05/6/2020 và phụ lục hợp đồng thì thời hạn vay 120 tháng, kể từ ngày ký đến hết ngày 15/6/2030. Tuy chưa hết hạn thanh toán, nhưng do bà Đ1 đã liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc định kỳ 03 tháng /lần vào ngày 15, lãi trả hàng tháng vào ngày 15 là đã vi phạm vào Điều 7 của Hợp đồng tín dụng và mục 2 của phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 18/6/2020, xâm phạm đến quyền và lợi ích của nguyên đơn nên Ngân hàng yêu cầu bà Đ1 phải trả nợ gốc, lãi trước thời hạn làm một lần kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật là chính đáng. Theo xác nhận của Ngân hàng A2, bà Nguyễn Phương Đ còn nợ Ngân hàng A2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/8/2024 là: 2.762.066.635 đồng (nợ gốc: 1.895.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 683.544.672 đồng, nợ lãi quá hạn: 61.740.534 đồng, lãi chậm trả: 121.781.429 đồng). Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A2 đối với bà Nguyễn Phương Đ là có cơ sở chấp nhận.

Ngoài ra, bà Nguyễn Phương Đ còn phải chịu tiền lãi tiếp tục phát sinh theo mức lãi suất quá hạn trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày 17/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.

Căn cứ vào văn bản cung cấp chứng cứ số 256/CV – HT/2023 ngày 26/9/2023 của Công ty cổ phần T4 về việc phản hồi Quyết định số 1266/2023/QĐ-CCTLCC của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, thì kể từ ngày 05/6/2020 đến nay, Lô O – 15 vẫn do bà Nguyễn Phương Đ là chủ sở hữu, sử dụng do bà Đ đã nhận chuyển nhượng căn hộ từ ông Nguyễn Hải A và bà Nguyễn Thị Phương A1 và được Công ty T4 xác nhận theo Văn bản số 20/2020/XN-HT-SKY ngày 03/6/2020. Hiện tại, Lô O – 15 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất, nhưng Công ty đã bàn giao căn hộ cho ông A và ông A đã bàn giao cho bà Đ sử dụng, 02 bên chưa tất toán xong hợp đồng. Như vậy, mặc dù căn hộ mà bà Đ thế chấp cho Ngân hàng A2 để đảm bảo cho khoản vay 2 tỷ đồng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nhưng thực tế bà Đ là người quản lý, sử dụng căn hộ từ thời điểm mua bán đến nay.

Trước yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A2, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận đã nhiều lần triệu tập bà Nguyễn Phương Đ đến Tòa để lấy lời khai của bà về những vấn đề liên quan đến vụ án nhưng bà vắng mặt. Tòa án đã niêm yết, tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm bản tự khai, thông báo về phiên họp cũng như kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản phản đối yêu cầu của nguyên đơn, do đó có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng.

Tại phiên tòa hôm nay, bà Nguyễn Phương Đ vẫn vắng mặt không có lý do, cũng như không đưa ra bất kỳ một phản hồi nào hoặc chứng cứ nào để chứng minh cho quan điểm của mình. Vì vậy, bà Đ phải chịu hậu quả đối với hành vi của mình.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T4 có ý kiến nếu Tòa án tuyên Ngân hàng A2 được quyền xử lý tài sản bảo đảm đối với Lô O Block A thì đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật là có cơ sở chấp nhận.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu ý kiến:

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm, bà Nguyễn Phương Đ phải chịu. Ngân hàng N - Chi nhánh P1 không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 280, Điều 299, Điều 323, Điều 351, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010;

Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Buộc bà Nguyễn Phương Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng N - Chi nhánh P1 số tiền còn nợ của hợp đồng tín dụng số 1604-LAV-202000369 ngày 05/06/2020 tạm tính đến ngày 16/8/2024 là : 2.762.066.635 đồng (nợ gốc: 1.895.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 683.544.672 đồng, nợ lãi quá hạn: 61.740.534 đồng, lãi chậm trả: 121.781.429 đồng).

    Thi hành một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Trường hợp bà Nguyễn Phương Đ không thanh toán số tiền còn nợ nêu trên, thì Ngân hàng N Chi nhánh P1 được quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Căn hộ chung cư có mã Lô OFFICEETEL: C3-15, (Block A, Tầng A) dự án Sky center thuộc tòa nhà văn phòng Dự án cao ốc văn phòng và căn hộ chung cư S P, phường B, Quận T, TP. thuộc sở hữu của bà Nguyễn Phương Đ theo các hợp đồng mua bán lô Officeetel số: 331/HĐMB-HT ngày 24/9/2015 giữa tập đoàn T4 và ông Nguyễn Hài A. Văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán căn hộ số L-Tầng A dự án cao ốc văn phòng căn hộ chung cư S P, phường B, Quận T, TP. giữa ông Nguyễn Hải A vợ là bà Nguyễn Thị Phương A1 và bà Nguyễn Phương Đ được Văn phòng công chứng Nguyễn Thành H chứng nhận, số công chứng 003373, quyền số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/6/2020, và Văn bản xác nhận số 20/2020/XN-HT-SKY ngày 03/6/2020 của Công ty cổ phần T4 xác nhận việc mua bán căn hộ giữa ông Nguyễn H1 An/bà Nguyễn Thị Phương A1 và bà Nguyễn Phương Đ.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử, nếu bà Nguyễn Phương Đ không thi hành số tiền nêu trên thì bà Đ phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận trong đồng tín dụng số 1604-LAV-202000369 ngày 05/06/2020 giữa Ngân hàng N Chi nhánh P1 và bà Nguyễn Phương Đ.

  2. Về án phí:

    Bà Nguyễn Phương Đ phải chịu án phí sơ thẩm là 87.241.333đồng (T3 mươi bảy triệu hai trăm bốn mươi mốt ngàn ba trăm ba mươi ba đồng).

    H2 lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí 38.332.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0029893 ngày 03/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự đã sửa đổi bổ sung năm 2014.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bà Nguyễn Phương Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thụy Bích Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 828/2024/DS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 828/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger