Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 828/2024/DS-PT

Ngày: 18/9/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hương

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Hương

Bà Phạm Thị Kim

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Quyện - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Đào Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 18/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 588/2024/TLPT-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4526/2024/QĐPT - DS ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên Tòa số 13274/2024/QĐPT - DS ngày 5 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Ông Hồ Văn Q, sinh năm 1967 (có mặt)

Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1974 (vắng mặt)

Địa chỉ: D B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh;

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ

Trụ sở: 186 - 186 Bis N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Phạm Thái H và ông Trần Văn T là đại diện theo uỷ quyền của bị đơn (giấy uỷ quyền số 02/2024/GUQ-TP ngày 05/3/2024) (Ông Phạm Văn T1 có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 17/5/2024 và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O cùng thống nhất trình bày như sau:

Năm 2019, ông Hồ Văn Q và Công ty Cổ phần Đ có tiến hành giao kết hợp đồng đặt cọc để đảm bảo việc ký hợp đồng mua bán căn hộ hình thành trong tương lai thuộc dự án chung cư H tại số B đường H, phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (tên thương mại của dự án: The Penta). Theo đó, hai bên đã ký với nhau hợp đồng đặt cọc số 37A/2019/HĐĐC.PENTA ký ngày 09/01/2019. Theo nội dung của Hợp đồng đặt cọc ông Q đã thanh toán đợt 1 số tiền đặt cọc là 762.576.927 đồng cho Công ty Cổ phần Đ.

Tuy nhiên vì nhiều lý do như dự án kéo dài, chủ đầu tư không đảm bảo tiến độ thi công dự án, do đó hai bên đã tiến hành thỏa thuận thanh lý chấm dứt hợp đồng đặt cọc. Vào ngày 23/4/2021 hai bên đã tiến hành ký Biên bản thanh lý hợp đồng đặt cọc số 57/2021/BBTL.HĐĐC. PENTA để thanh lý chấm dứt hợp đồng đặt cọc số 37A/2019/HĐĐC.PENTA ký ngày 09/01/2019.

Theo biên bản thanh lý thì hai bên thống nhất thanh lý hợp đồng đặt cọc, không áp dụng các chế tài khi thanh lý hợp đồng. Theo thỏa thuận tại điểm 1.2.3 khoản 1 của biên bản thanh lý thì Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm hoàn trả số tiền 762.576.927 đồng cho ông Q và bà O trong thời hạn 150 ngày kể từ ngày ký biên bản thanh lý. Tuy nhiên đến nay đã 02 năm nhưng phía Công ty Cổ phần Đ chỉ mới hoàn trả cho ông Q và bà O số tiền 300 triệu đồng, số tiền còn lại 462.576.927 đồng phía công ty chưa chịu thanh toán cho ông Q và bà O.

Khi ông Q và bà O yêu cầu hoàn trả số tiền đặt cọc như đã ký theo biên bản thanh lý thì công ty viện dẫn nhiều lý do để khoái thác trách nhiệm và trốn tránh nghĩa vụ hoàn trả tiền đặt cọc. Điều này chứng tỏ Công ty Cổ phần Đ đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ theo hợp đồng, biên bản thanh lý như đã ký kết. Việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông Q và bà O. Theo quy định tại điều 1 của biên bản thanh lý thì trong thời gian 150 ngày kể từ ngày ký biên bản (ngày 23/4/2021) phía công ty phải hoàn lại tiền cho ông Q và bà O, vì vậy hạn cuối công ty phải trả cho vợ chồng ông là ngày 22/9/2021. Vì vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ gốc số tiền 462.576.927 đồng và lãi tạm tính đến ngày 23/10/2023 là 96.369.807 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Tổng số tiền nợ gốc và lãi mà Cổ phần Đầu tư Địa ốc Đ phải trả là 558.946.734 đồng.

Tại các bản tự khai và trong quá trình giải quyết tại Tòa án, bị đơn Công ty Cổ phần Đ có ông Trần Văn T là đại diện theo uỷ quyền trình bày như sau:

Công ty Cổ phần Đ xác nhận việc ký kết biên bản thanh lý hợp đồng đặt cọc số 57/2021/BBTL.HĐĐC. PENTA ngày 23/4/2021 với những nội dung và điều khoản đúng như trình bày nguyên đơn.

Nghĩa vụ trả nợ của Công ty Cổ phần Đ phát sinh từ biên bản thanh lý nêu trên là 762.576.927 đồng. Toàn bộ số tiền này Công ty Cổ phần Đ phải thanh toán hết trong thời hạn 150 ngày kể từ ngày 23/4/2021. Tới thời điểm hiện tại, công ty đã trả được 300 triệu đồng, số nợ gốc còn lại là 462.576.927 đồng. Công ty Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với khoản tiền này từ ngày 22/9/2021.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn Công ty Cổ phần Đ đề nghị được giảm 70% tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ, đồng thời cam kết thanh toán toàn bộ số nợ gốc 462.576.927 đồng và tiền lãi phát sinh (sau khi miễn giảm) trong thời hạn 05 tháng kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn không có ý kiến đối với mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ nguyên đơn yêu cầu áp dụng là 10%/năm. Trong trường hợp hai bên không thống nhất được với nhau về việc giải quyết toàn bộ bội dung tranh chấp, bị đơn đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O.

Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm trả cho ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O số tiền là 584.737.367 đồng (Năm trăm tám mươi bốn triệu bảy trăm ba mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc còn lại phát sinh từ biên bản thanh lý hợp đồng đặt cọc số 57/2021/BBTL.HĐĐC. PENTA ngày 23/4/2021 là 462.576.927 đồng (bốn trăm sáu mươi hai triệu năm trăm bảy mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi bảy đồng) và tiền lãi chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền từ ngày 22/9/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 14/5/2024) là 122.160.440 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu một trăm sáu mươi nghìn bốn trăm bốn mươi đồng).Việc thanh toán được thực hiện một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Cổ phần Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì hàng tháng, Công ty Cổ phần Đ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thi hành án xong. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 29/5/2024, bị đơn Công ty Cổ phần Đ có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

* Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cùng thống nhất hòa giải, thoả thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ kiện như sau:

Bị đơn Công ty Cổ phần Đ đồng ý thanh toán số tiền nợ gốc là 462.576.927 đồng và đề nghị giảm tiền lãi suất tính đến ngày 18/9/2024 còn lại là: 96.000.000 đồng, thời hạn thanh toán đến ngày 30/12/2024 sẽ thanh toán toàn bộ số tiền gốc và tiền lãi nêu trên cho nguyên đơn ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu tại phiên tòa:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục được qui định tại Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự được đảm bảo để thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18/9/2024, bị đơn Công ty Cổ phần Đ và nguyên đơn ông Hồ Văn Q đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, cụ thể: Công ty Cổ phần Đ đồng ý thanh toán số tiền gốc là 462.576.927 đồng, đề nghị giảm lãi suất tính đến ngày 18/9/2024 còn là: 96.000.000 đồng, thời hạn thanh toán đến ngày 30/12/2024 sẽ thanh toán hết cả số tiền gốc và tiền lãi, nếu sau thời hạn trên Công ty không thanh toán sẽ phải chịu lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Xét thấy, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án, việc thỏa thuận của đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của bị đơn đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo, do đó về hình thức là hợp lệ. Về người tham gia tố tụng trong vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và xác định đúng về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn Công ty Cổ phần Đ và nguyên đơn ông Hồ Văn Q đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, sự thỏa thuận của các bên cụ thể như sau:

  • Bị đơn Công ty Cổ phần Đ đồng ý thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc là 462.576.927 đồng và đề nghị bị đơn giảm tiền lãi suất tính đến ngày 18/9/2024 còn là: 96.000.000 đồng, tổng cộng là: 558.576.957 đ, thời hạn thanh toán là đến ngày 30/12/2024.

Xét thấy, các đương sự đã đưa ra được sự thoả thuận về việc giải quyết toàn bộ vụ án, sự thoả thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện giữa các đương sự về việc thoả thuận như trên. Do đó đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận các đương sự tại phiên toà phúc thẩm là có căn cứ nên chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sửa nên Công ty Cổ phần Đ không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 300; Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm như sau:
    • - Công ty Cổ phần Đ có trách nhiệm thanh toán cho ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O số tiền gốc là 462.576.927 đồng và số tiền lãi suất tính đến ngày 18/9/2024 là: 96.000.000 đồng, tổng cộng là: 558.576.957 đ (năm trăm năm mươi tám triệu năm trăm bảy mươi sáu ngàn chín trăm năm mươi bảy đồng), thời hạn thanh toán toàn bộ số tiền trên là đến ngày 30/12/2024.
    • - Kể từ ngày ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Cổ phần Đ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì hàng tháng, Công ty Cổ phần Đ phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thi hành án xong.

    Thi hành sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 27.389.485 đồng (Hai mươi bảy triệu ba trăm tám mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi lăm đồng).

    Hoàn trả số tiền 12.503.823 đồng (mười hai triệu năm trăm lẻ ba nghìn tám trăm hai mươi ba đồng) cho ông Hồ Văn Q và bà Nguyễn Thị Kim O đã tạm nộp theo biên lai số AA/2021/0007369 ngày 15/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: H1 lại cho Công ty Cổ phần Đ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021220 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 3, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 3, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Ngọc Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 828/2024/DS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 828/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger