Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 827/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 26-12-2023

Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trương Thị Đạt;
  2. Bà Nguyễn Thị Xuân Trinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 650/2023/HNST ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 456/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Phương T.

Địa chỉ: Số A đường N, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn N.

Địa chỉ: Số A đường N, Khu phố A, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phương T trình bày và yêu cầu Tòa án giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu cả hai tiến tới hôn nhân vào năm 2022, Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Đăng ký kết hôn số 30 ngày 12 tháng 4 năm 2022. Trong quá trình chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống, quản lý chi tiêu về tài chính, thường xuyên cãi vã. Mặc dù cả hai hàn gắn nhưng không được, mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay để ổn định cuộc sống bà Nguyễn Thị Phương T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn N.

Về con chung: Cả hai có một con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Gia L sinh ngày 20 tháng 8 năm 2023. Sau khi ly hôn bà Nguyễn Thị Phương T đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Tấn N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Nguyễn Tấn N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Qua thời gian tìm hiểu cả hai tiến tới hôn nhân vào năm 2022, Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Đăng ký kết hôn số 30 ngày 12 tháng 4 năm 2022. Trong quá trình chung sống cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống, quản lý chi tiêu về tài chính, thường xuyên cãi vã. Mặc dù cả hai hàn gắn nhưng không được, mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay để ổn định cuộc sống bà Nguyễn Thị Phương T yêu cầu được ly hôn thì ông Nguyễn Tấn N đồng ý.

Về con chung: Cả hai có một con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Gia L sinh ngày 20 tháng 8 năm 2023. Sau khi ly hôn ông Nguyễn Tấn N đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu bà Nguyễn Thị Phương T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Phương T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn N nên đây là tranh chấp ly hôn được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn ông Nguyễn Tấn N cư trú tại Quận G Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Về các yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
  3. Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Nguyễn Tấn N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn (Đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Đăng ký kết hôn số 30 ngày 12 tháng 4 năm 2022) nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp; vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.
  4. Về quan hệ hôn nhân: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cùng lời trình bày của đương sự cho thấy quan hệ hôn nhân của bà Nguyễn Thị Phương T và ông Nguyễn Tấn N chỉ ràng buộc về mặt pháp lý, cả hai không còn tình cảm với nhau, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Phương T là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  5. Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh số 143 đăng ký ngày 05/9/2023 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre cùng với lời trình bày của đương sự đủ cơ sở để khẳng định bà Nguyễn Thị Phương T và ông Nguyễn Tấn N có một con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Gia L sinh ngày 20 tháng 8 năm 2023.

    Tại Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

    Hội đồng xét xử xét thấy, theo lời trình bày của bà Nguyễn Thị Phương T bà là người yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên yêu cầu được nuôi con chung của bà Nguyễn Thị Phương T là có cơ sở để chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử giao con chung trẻ Nguyễn Hoàng Gia L cho bà Nguyễn Thị Phương T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

  6. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Phương T tự nguyện không yêu cầu ông Nguyễn Tấn N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  7. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Phương T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
  8. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Nguyễn Tấn N cùng xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Phương T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng các điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Phương T được ly hôn với ông Nguyễn Tấn N (Đăng ký kết hôn số 30 ngày 12 tháng 4 năm 2022 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre cấp).

1.2. Về con chung:

Bà Nguyễn Thị Phương T và ông Nguyễn Tấn N có một con chung là trẻ Nguyễn Hoàng Gia L sinh ngày 20 tháng 8 năm 2023. Sau khi ly hôn giao trẻ Nguyễn Hoàng Gia L sinh ngày 20 tháng 8 năm 2023 cho bà Nguyễn Thị Phương T được trực tiếp nuôi dưỡng, ông Nguyễn Tấn N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Tấn N có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản.

Vì lợi ích con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

1.4. Về nợ chung: Không có.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị Phương T phải chịu là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0037469 ngày 31 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Phương T đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn N và bà Nguyễn Thị Phương T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm) kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q7;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q7;
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn.
  • - Mỗi đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ (Thư ký Hoài Thu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Viết Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 827/2023/HNGĐ-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 827/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà T tranh chấp ly hôn với ông N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger