TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 827/2024/HS-PT Ngày: 13/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Văn Yên |
| Các Thẩm phán: | Ông Phan Nhựt Bình |
| Bà Hồ Thị Thanh Thúy |
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 421/2024/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 do có kháng kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 162/2024/HS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Châu Đại T; sinh năm 1983 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: C P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú trước khi bị bắt: 254/13/30 Tân Hới H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thành T1 (chết) và bà: Châu Thị C (chết); tình trạng hôn nhân:
- C1 sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Lan C2, có 01 con chung là Nguyễn Châu Đại P, sinh năm 2007;
- C1 sống như vợ chồng với Huỳnh Vũ Quỳnh A, có 01 con chung là Nguyễn Châu Quỳnh A1, sinh năm 2022;
Tiền án:
- Bản án hình sự sơ thẩm số 136/HSST ngày 10/6/2004 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999;
- Bản án hình sự sơ thẩm số 936/2009/HSST ngày 22/4/2009 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/12/2021. Có mặt.
- Võ Thanh S; sinh năm 1992 tại: tỉnh Kiên Giang; nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú trước khi bị bắt: 350/21/37 tổ A, khu phố D, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Võ Hoàng D, sinh năm: 1964 và bà Nguyễn Thị V,sinh năm: 1968; vợ, con: chưa có; tiền sự: không;
Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2011/HSST ngày 26/5/2011 của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009, đã chấp hành xong bản án;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 266/2019/HSST ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí, quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đã chấp hành xong bản án.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/12/2021. Có mặt.
- Nguyễn Vĩnh C3; sinh năm 1988 tại: tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú trước khi bị bắt: Số A, đường C, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Vĩnh L, sinh năm: 1962 và bà: Thái Thị T2, sinh năm: 1953; vợ: Phạm Thị Huyền T3, sinh năm: 1994; con: có 01 người, sinh năm 2013; tiền sự: không;
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2017/HSST ngày 26/4/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 250 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/12/2021. Có mặt.
Người bào chữa:
- Ông Vũ Văn T4, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Vĩnh C3. Có mặt.
- Ông Phạm Đức H, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Châu Đại T. Có mặt.
- Ông Nguyễn Hồng N, Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa chỉ định cho bị cáo Võ Thanh S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ ngày 28/12/2021, tại đường bờ sông T, khu phố B, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Bộ C8 chủ trì phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ C8, Công an Thành phố H và Đoàn 3 - Cục P1, bắt quả tang Võ Thanh S đang giao ma túy cho Nguyễn Vĩnh C3.
Vật chứng thu giữ: 02 (hai) bánh Heroine có tổng khối lượng 700,1 (bảy trăm phẩy một) gam (Kết luận giám định số 393/C09B ngày 07/01/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C8 tại Thành phố Hồ Chí Minh) (BL 3666).
Tại Cơ quan điều tra, Võ Thanh S khai 02 (hai) bánh Heroine là S đi giao cho khách theo chỉ đạo của Nguyễn Châu Đại T (tên thường gọi Đ), Nguyễn Vĩnh C3 khai đi nhận tiền theo chỉ đạo của người tên T5. Căn cứ tài liệu chứng cứ điều tra thu thập được, vật chứng thu giữ và lời khai của Võ Thanh S, Nguyễn Vĩnh C3, ngày 28 và 29/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Thanh S, Nguyễn Châu Đại T, Nguyễn Vĩnh C3, Nguyễn Văn T6, kết quả:
- Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Thanh S tại 350/21/37, tổ A, khu phố D, phường A, Quận A, TP ., thu giữ: 65 (sáu mươi lăm) bánh Heroine có tổng khối lượng 22.412,9 (hai mươi hai nghìn bốn trăm mười hai phẩy chín) gam Heroine (Kết luận giám định số 393/C09B ngày 07/01/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C8 tại Thành phố Hồ Chí Minh) (BL: 3642; 3666).
- Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Châu Đại T, Nguyễn Vĩnh C3 và Nguyễn Văn T6 không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 đã giữ người trong trường hợp khẩn cấp về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Châu Đại T, Nguyễn Văn T6, Phan Công T7 (sinh năm: 1995, nơi thường trú: 377/35 P, phường A, quận B, TP .), Vũ Đỗ Trường Hoàng G (sinh năm: 1992, nơi thường trú: 106/9/4 L, Phường E, quận G, TP .), Nguyễn Bảo K (sinh năm: 1988, nơi thường trú: Ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng). Kết quả điều tra xác định Phan Công T7, Vũ Đỗ Trường Hoàng G, Nguyễn Bảo K không liên quan đến hành vi mua bán, vận chuyển trái phép ma túy nêu trên. Ngày 09/01/2022, theo đề nghị của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ra Quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và Quyết định trả tự do đối với Phan Công T7, Vũ Đỗ Trường Hoàng G và Nguyễn Bảo K.
Về nguồn gốc của số Heroine bị thu giữ, các bị can khai nhận như sau:
Nguyễn Văn T6 quen biết với một người tên C1 (không rõ họ, tên đệm, tuổi, địa chỉ cụ thể) quê ở huyện T, tỉnh Nghệ An trong thời gian thi hành án tại Trại giam B1 - Bộ C8. Sau khi chấp hành xong án phạt tù T6 về Nghệ An sinh sống còn C1 chuyển sang định cư tại Lào (không rõ địa chỉ của C1 tại Lào). Dịp Tết cổ truyền của người Lào năm 2021, T6 sang Lào chơi và gặp C1 ở thị trấn L, huyện C, tỉnh Bolykhămxay. Mục đích T6 sang Lào để nhờ C1 tìm việc làm giúp T6, khi gặp nhau, C1 bảo Toàn cứ về Việt Nam khi nào có việc C1 sẽ giới thiệu sau. Quá trình đi chơi tại Lào, T6 gặp và quen với một người đàn ông quốc tịch Lào tên thường gọi là C4, C4 nói chuyện với T6 bằng tiếng Việt Nam. Khi nói chuyện C4 đặt vấn đề mua bán ma túy với T6, C4 bảo Toàn về Việt Nam tìm nơi tiêu thụ ma túy cho C4, C4 sẽ cho người vận chuyển ma túy đến tận nơi, T6 không phải vận chuyển ma túy. Chăn nói “cứ 02 (hai) bánh Heroine kẹp lại với nhau gọi là một khối, nếu tìm nguồn tiêu thụ được cứ một khối Chăn trả công cho T6 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)”. T6 đồng ý, hai người trao đổi số điện thoại, C4 cho T6 số điện thoại +8562098897789 (mạng điện thoại của nước Lào) để tiện liên lạc.
Sau khi về Việt Nam, do dịch bệnh Covid 19 phức tạp, việc đi lại khó khăn nên T6 chưa tìm nơi tiêu thụ ma túy cho C4. Khoảng đầu tháng 12/2021, C4 gọi điện hỏi T6 tìm được nơi tiêu thụ ma túy cho C4 chưa, T6 nói chưa tìm được. Sau đó, T6 nhớ đến Nguyễn Châu Đại T (hay còn gọi là Đ) ở TP . là người quen của B (bạn của T6 ở Bình Phước) mà T6 đã gặp Đ đầu năm 2019. Do T6 không có số điện thoại của Đ nên khoảng giữa tháng 12/2021, T6 vào TP . đến nhà Đại để bàn bạc việc mua bán ma túy. T6 và Đ thống nhất T6 sẽ cho người vận chuyển ma túy (Heroine) vào TP ., Đ tìm nơi để cất giấu ma túy và tiêu thụ ma túy, T6 bán Heroine cho Đ giá 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng)/01 bánh, Đại bán được cao hơn thì hưởng phần chênh lệch. Đại đồng ý và bảo với T6 do dịch Covid 19 việc tiêu thụ ma túy sẽ chậm hơn, thống nhất với Đ xong, T6 về Nghệ An thông báo cho C4 đã tìm được nơi tiêu thụ ma túy tại TP .
Ngày 19/12/2021, C4 gọi điện thoại thông báo cho T6 là C4 cho người vận chuyển 35 (ba mươi lăm) khối gỗ (tức 70 bánh Heroine) đến TP . và bảo Toàn sắp xếp, bố trí người nhận. Tối ngày 19/12/2021, T6 gọi điện thoại thông báo cho Đ thì Đ nói đang điều trị Covid 19 tại Bệnh viện N3. T6 bảo Đ trong đêm nay nghiên cứu chỗ để cất giấu ma túy. Đại bảo Toàn cứ vận chuyển ma túy vào TP ., gần đến nơi thì điện thoại trước 02 giờ Đ sẽ cho người đón. Đ hỏi T6 đưa loại ma túy gì vào để sắp xếp, T6 nói “màu xanh” 70 (tức bảy mươi bánh Heroine), T6 bảo Đ khoảng sáng ngày mai (20/12/2021) ma túy sẽ đến TP ..
Sáng ngày 20/12/2021, C4 gọi điện cho T6 thông báo ma túy để trong bánh xe ô tô dự phòng, người của C4 đã vận chuyển đến TP ., C4 bảo Toàn nhắn số điện thoại và địa chỉ nhận ma túy để C4 thông báo cho người của C4 biết. T6 gọi điện thoại bảo Đ nhắn số điện thoại và địa chỉ người nhận ma túy và nói ma túy giấu trong bánh xe ô tô dự phòng. Sau đó, Đ gọi điện thoại cho Võ Thanh S bảo “có người gọi điện thoại đến thì em đi nhận đồ”, S hiểu là đi nhận ma túy cho Đ,
Đ bảo S nhắn số điện thoại và địa chỉ nhận ma túy cho Đ. S nhắn địa chỉ cho Đ là 2527A, Vườn Lài, An Phú Đ1, Quận A, TP . và số điện thoại 0901.439.xxx của S, Đ bảo nó bỏ trong bánh xe dự phòng. Sau khi S nhắn địa chỉ nhận ma túy và số điện thoại cho Đ thì Đ nhắn tin cho T6, T6 gửi tin nhắn cho C4 số điện thoại và địa chỉ của người nhận ma túy. Khoảng trưa ngày 20/12/2021, S nhận được điện thoại từ số 0969.655.xxx của một người đàn ông gọi đến nói giao hàng, S hiểu là giao ma túy cho Đ nên bảo người giao đến địa chỉ B, V (gần bờ sông) để nhận, nhưng người giao nói không biết đường, vì vậy S bảo đến giao cho S tại khu vực bãi cỏ gần quán N4, phía sau đình H, phường A, Quận A. Sau đó, S đứng từ xa quan sát, S nhận được điện thoại từ người giao ma túy, S bảo cứ cho hàng (ma túy) xuống bãi cỏ S lấy sau. S quan sát từ xa thấy có một người đàn ông xuống xe mở cửa sau của thùng xe ô tô bán tải và lăn xuống đất một bánh xe ô tô (bánh xe nguyên cả lốp và vành xe), sau đó người giao lên xe ô tô đi luôn. S gọi điện cho người giao ma túy xác nhận là S đã nhận và gọi điện thông báo cho Đ biết đã nhận ma túy cho Đ, tiếp đó S đứng từ xa để theo dõi, giám sát, canh chừng bánh xe ô tô. Khi giám sát bánh xe ô tô, S gọi điện thoại cho Vũ Đỗ Trường Hoàng G là người cùng ở nhà trọ cũ tại địa chỉ 9 V, bảo G ra đường bờ sông (V) chơi, G rủ Phan Công T7 là người ở cùng nhà trọ với G đi xe máy ra đường bờ sông, khi G và T7 ra đường bờ sông gặp S, S nhờ G, T7 đi mua thuốc lá, nước uống. Sau khi G, T7 mua thuốc lá, nước về cho S thì G, T7 đi ăn chiều ở quận B, TP ..
Chiều ngày 20/12/2021, Nguyễn Văn T6 đi máy bay vào Thành phố Hồ Chí Minh để bố trí, sắp xếp việc tiêu thụ ma túy, T6 đến nghỉ tại một khách sạn ở quận P. Tại đây, T6 nhận được điện thoại của một người đàn ông sử dụng số 0877602022 gọi đến hỏi thăm sức khỏe và tình hình công việc của T6 và giới thiệu là bạn của C3 ở T, Nghệ An, T6 không biết người này. T6 biết Nguyễn Vĩnh C3 ở T, Nghệ An (T6 đã gặp, quen biết từ trước qua B). Người này hỏi T6 có mang ma túy đá vào không, T6 nói không có, chỉ có Heroine thôi, người này nói để xem có gì thì sẽ gọi lại sau.
Khoảng 16 giờ ngày 20/12/2021, S thuê một chiếc xe máy ba gác để chở bánh xe ô tô, S nhờ bạn là Nguyễn Bảo K và thuê thêm 02 người đàn ông không quen biết đến giúp S khiêng bánh xe ô tô lên xe ba gác rồi S và K đi xe máy trước, xe ba gác đi sau. Trên đường đi S bảo K cho gửi bánh xe ô tô ở chòi (vườn M, nơi K bán nước mía) hôm sau lấy, K đồng ý. S và K dẫn xe ba gác về chòi của K trên đường V, cách vị trí S nhận bánh xe ô tô chứa ma túy khoảng 01 km. Đến chòi của K, S lăn bánh xe vào bụi cỏ cách vị trí K bán nước mía khoảng 30 mét. Sau đó, theo chỉ đạo của Đ, S đi và thuê được một phòng trọ làm nơi cất giấu ma túy ở địa chỉ: 3, Tổ A, khu phố D, phường A, Quận A, TP . giá 2.000.000 đồng/01 tháng. Sau khi thuê được phòng trọ mới, S về chòi nhậu với K đến sáng ngày hôm sau, mục đích là để S trông coi bánh xe ô tô chứa ma túy. Khoảng 05 giờ sáng ngày 21/12/2021, S nhờ K lái xe máy loại V1 và ngồi sau giữ để chở bánh xe về phòng trọ mới thuê ở 350/21/37, khu phố D, phường A cất giấu, đến phòng trọ S lăn bánh
xe ô tô vào phòng bếp để cạnh tường khóa cửa phòng lại rồi về đi ngủ ở phòng trọ cũ, còn K đi về chòi.
Khoảng trưa ngày 22/12/2021, Nguyễn Châu Đại T (Đ) gọi điện thoại bảo S mổ (mở, khui) bánh xe ô tô để lấy ma túy ra. S đi mua 02 (hai) thanh xà beng để mở lốp xe ô tô và đi đến phòng trọ cũ ở 9 V, khu phố A, phường A nhờ Phan Công T7 sang phòng trọ mới giúp S dọn dẹp, lau dọn phòng trọ. S chở T7 đến phòng trọ, T7 lau dọn phòng trọ xong, S bảo T7 ra ngoài uống nước, chơi game để S làm công chuyện, S không nói cho T7 biết S làm gì. Khi T7 đi ra ngoài uống nước, S đóng cửa phòng trọ lại rồi lấy hai thanh xà beng mở (khui) bánh xe ô tô lấy ma túy ra nhưng không mở được. S ra ngoài lấy xe máy đi mua một chiếc cưa mini về để cưa lốp xe lấy ma túy ra. Sau khi mua được cưa, S mang về phòng trọ đóng cửa phòng lại dùng cưa để cưa lốp xe. S cưa một lỗ ở bánh xe có chiều rộng khoảng 7cm, dài khoảng hơn một gang tay lấy Heroine ở bánh xe ô tô ra đếm được tổng cộng 70 (bảy mươi) bánh và xếp các bánh Heroine ở dưới gầm bếp phòng trọ. Sau đó ra ngoài khóa cửa phòng trọ lại rồi lấy xe máy chở T7 về phòng trọ tại 92/4/19 V. Sau khi chở T7 về, S quay lại phòng trọ mới gọi điện thông báo cho Đ biết là S đã khui bánh xe ô tô ra có 70 (bảy mươi) bánh Heroine, Đ đã thông báo lại cho T6 biết.
Sau khi nhận 70 bánh Heroine, các bị can cất giấu, tiêu thụ như sau:
1. Hành vi mua bán trái phép 01 (một) bánh Heroine khối lượng 344,97 (ba trăm bốn mươi bốn phẩy chín mươi bảy) gam Heroine của Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T và Võ Thanh S ngày 22/12/2021.
Khoảng trưa ngày 22/12/2021, sau khi lấy được 70 bánh Heroine từ lốp ô tô ra, S báo cho Đ, Đ báo cho T6 biết vì Đ và T6 đã thống nhất việc mua bán tại TP . Sau đó, Đ nhắn tin cho S với nội dung là “0799671818 đưa 1”, S hiểu là Đ bảo S đi giao cho người có số điện thoại 0799.671.xxx một bánh Heroine. S lấy 01 (một) bánh Heroine trong số 70 bánh Heroine cho vào một túi nilon màu đen bỏ vào cốp xe máy Vario biển kiểm soát 59S3-391.22 rồi gọi đến số điện thoại của người nhận 01 bánh Heroine do Đại nhắn thì người nghe điện thoại là giọng của một người phụ nữ. S hỏi “chị đang ở đâu em qua đưa đồ anh Đ gửi cho chị” người phụ nữ bảo S đến cạnh lăng ông bà C, quận B, TP .. Sau đó, S điều khiển xe máy đến địa điểm người phụ nữ hẹn tại cạnh lăng ông bà C5, đến nơi S gọi điện thì người phụ nữ hỏi S đi xe, mặc áo gì, S miêu tả đi xe máy màu đỏ, áo màu đen, người phụ nữ giơ tay lên vẫy. S nhận ra người phụ nữ đang nghe điện thoại, S đi đến vị trí người phụ nữ dừng xe lại mở cốp xe đưa cho người phụ nữ 01 (một) bánh Heroine đựng trong túi nilon màu đen và không nói chuyện gì, giao xong S đi xe máy về và thông báo cho Đ biết, S xóa số điện thoại, nhật ký cuộc gọi liên lạc với người phụ nữ này.
Lời khai của Võ Thanh S và lời khai ban đầu của Nguyễn Châu Đại T (Đ) phù hợp với nhau, thể hiện Đại chỉ đạo S mang 01 (một) bánh Heroine, trong số
70 bánh Heroine do Nguyễn Văn T6 chuyển đến, bán cho người phụ nữ tên H1 ở khu vực chợ B2, quận B, TP . sử dụng số điện thoại có số đuôi là 818.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T (Đ) và Võ Thanh S mua bán trái phép 01 (một) bánh Heroine có khối lượng 344,97 gam (ba trăm bốn mươi bốn phẩy chín mươi bảy gam).
Đối với người phụ nữ tên H1 sử dụng số điện thoại 0799.671.xxx là người mua 01 (một) bánh Heroine của Đ ở khu vực chợ B2, quận B, TP .: do Đ và S không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được nên không có điều kiện để làm rõ (BL: 372-437; 862-889; 1080-1109).
2. Hành vi mua bán trái phép 02 (hai) bánh Heroine khối lượng 700,1 (bảy trăm phẩy một) gam Heroine của Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T (Đ), Võ Thanh S và hành vi vận chuyển trái phép 02 (hai) bánh Heroine khối lượng 700,1 (bảy trăm phẩy một) gam Heroine của Nguyễn Vĩnh C3 ngày 28/12/2021.
Trước đó, chiều ngày 20/12/2021, khi đang nghỉ ở tại một khách sạn ở quận P, TP ., Nguyễn Văn T6 nhận được điện thoại của một người đàn ông sử dụng số 0877602022 giới thiệu là bạn của Nguyễn Vĩnh C3 ở T, Nghệ An, hỏi thăm sức khỏe và hỏi T6 có mang ma túy vào không và hẹn gọi lại sau. Đến ngày 28/12/2021, bạn của Nguyễn Vĩnh C3 sử dụng số điện thoại 0877.602.xxx gọi điện thoại đến cho T6 bảo bán cho 02 (hai) bánh Heroine, giá cả thỏa thuận (150 triệu đồng/01 bánh Heroine) và nhắn số điện thoại người nhận ma túy là 0377656976 cho T6. T6 gọi điện thoại bảo Nguyễn Châu Đại T (Đ) cho người mang lại chỗ hôm trước (D, Bình Dương) 01 cặp tức 02 (hai) bánh Heroine, T6 nhắn cho Đại số điện thoại người nhận ma túy là 0377656976. Khoảng trưa ngày 28/12/2021, Đại nhắn số điện thoại 0377.656.xxx cho Võ Thanh S, sau đó gọi điện bảo S “Đại mới nhắn tin qua, cái người hôm trước đó đưa nó 02 cái”. S hiểu là Đ bảo S lấy 02 (hai) cái, tức 02 (hai) bánh Heroine mang giao cho khách lần trước ở D, Bình Dương. Đ bảo S điện nói người nhận hẹn chỗ nào gần để giao. Sau đó, S gọi điện đến số 0377656976 hỏi người nhận “anh đang ở đâu” thì được trả lời là đang ở Bình Dương”, S nói “anh chạy xuống cầu sắt An Phú Đ1, Quận A, TP . được không, vì S không có xe và đang bận công chuyện” thì người nhận đồng ý và khi nào đến cầu sắt An Phú Đ1 sẽ gọi. S lấy 02 (hai) bánh Heroine cho vào túi nilon màu đen bỏ vào cốp xe máy Vario biển kiểm soát 59S3-391.22. Sau đó, S đi xe Vario biển kiểm soát 59S3-391.22 đến khu vực ao cá cô T8 nhậu với bạn khoảng 30 phút, lúc nhậu S đi ra ngoài gọi đến số điện thoại 0377.656.xxx hỏi xem người nhận ma túy đi đến cầu sắt An Phú Đ1 chưa thì người nhận nói gần đến, S lấy xe máy đi về cầu S luôn. Khoảng 14 giờ, S đi đến cầu S thấy có nhiều xe ô tô đang đi trên đường, S điện thoại cho người nhận ma túy hỏi thì người nhận nói đến rồi và nói đi xe ô tô 7 chỗ, S nói S đi xe máy Vario màu đỏ mặc áo màu trắng. S bảo người nhận xuống xe đi thì S nhìn thấy một người đàn ông mặc áo kẻ sọc caro, quần Jean đi xuống từ
xe ô tô 7 chỗ, S không để ý, quan sát nên không rõ biển số xe ô tô. S đi xe máy đến nơi xe ô tô dừng lại và bảo người đàn ông nhận ma túy vừa xuống xe ô tô ngồi lên xe máy của S và không để ý đến xe ô tô 7 chỗ nữa. Sau khi người đàn ông nhận ma túy ngồi lên xe máy, S chở người nhận đi vào đường bờ sông V, phường A cách cầu sắt khoảng 100 mét. Khi S chở người đàn ông nhận ma túy thấy trên đường vắng người nên dừng xe lại và bảo người đàn ông nhận ma túy xuống xe, S mở cốp xe Vario ra lấy túi nilon màu đen bên trong đựng 02 (hai) bánh Heroine đưa cho người đàn ông, người đàn ông đó là Nguyễn Vĩnh C3. Nguyễn Vĩnh C3 đã nhận túi nilon màu đen bên trong có 02 (hai) bánh Heroine và cầm trên tay, S quay xe máy lại và bảo C3 ngồi lên xe để chở ra cầu S. Khi quay đầu xe máy, C3 chưa ngồi lên xe máy của S thì lực lượng chức năng đến bắt, S vứt xe máy lại và cùng C3 bỏ chạy nhưng cả hai đều bị cơ quan chức năng bắt giữ. Cơ quan chức năng đã thu giữ túi nilon màu đen đựng 02 (hai) bánh Heroine của Nguyễn Vĩnh C3, đưa Võ Thanh S và C3 về trụ sở Công an phường A, Quận A, TP . lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong 02 (hai) bánh Heroine theo quy định.
Lời khai của Nguyễn Văn T6, Võ Thanh S phù hợp với lời khai ban đầu của Nguyễn Châu Đại T (Đ) về thời gian, nội dung tin nhắn giữa T6, Đ và S.
Khi bị bắt quả tang cùng 02 bánh Heroine, Nguyễn Vĩnh C3 không khai đi nhận ma túy, chỉ khai đi nhận tiền cho một người tên T5 và việc C3 có sử dụng số điện thoại 0377.656.xxx nhưng đã cho T5 trước ngày khi bị bắt quả tang khoảng 01 tuần. Với mô tả của C3 về đối tượng T5 có đặc điểm cao khoảng 1m7, 40 tuổi, quê ở huyện Y, tỉnh Nghệ An, làm nghề cho vay tiền ở khu vực Chợ D3 thành phố T, tỉnh Bình Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 tiến hành xác minh về người tên T5 tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, kết quả không có người tên T5 như lời khai của Nguyễn Vĩnh C3.
Căn cứ vào lịch sử cuộc gọi của số thuê bao 0377656976 và các số thuê bao Chí sử dụng, dữ liệu điện tử lưu trữ trong máy điện thoại thu giữ của C3 có đủ căn cứ xác định Nguyễn Vĩnh C3 là người sử dụng số thuê bao 0377656976 để giao dịch và thực tế C3 đã nhận 02 (hai) bánh Heroine của Võ Thanh S bị bắt quả tang vào ngày 28/12/2021.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được và vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T (Đ) và Võ Thanh S mua bán trái phép 02 (hai) bánh Heroine có khối lượng 700,1 gam (bảy trăm phẩy một gam); Nguyễn Vĩnh C3 vận chuyển trái phép 02 (hai) bánh Heroine có khối lượng 700,1 gam (bảy trăm phẩy một gam) (BL: 348; 372-437; 862-889; 1080-1109; 1262-1346; 1359-1380; 1391-1439).
3. Hành vi mua bán trái phép 02 (hai) bánh Heroine khối lượng 689,94 (sáu trăm tám mươi chín phẩy chín mươi tư) gam Heroine của Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T (Đ), Võ Thanh S và hành vi vận chuyển trái phép 02 (hai) bánh
Heroine khối lượng 689,94 (sáu trăm tám mươi chín phẩy chín mươi tư) gam Heroine của Nguyễn Vĩnh C3 ngày 24/12/2021.
Trước đó, khoảng trưa ngày 22/12/2021, một người đàn ông bạn của C3 sử dụng số 0877602022 gọi cho T6 bảo Toàn bán cho 02 bánh Heroine, T6 đồng ý và thỏa thuận giá 150 triệu đồng/01 bánh Heroine, bạn của C3 nói với T6 khi nào bán được H2 sẽ trả tiền. Khoảng trưa ngày 24/12/2021, bạn của C3 nhắn địa chỉ, số điện thoại người nhận ma túy là 0937503613, hẻm A V, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương cho T6. T6 gọi điện thoại bảo Đ bố trí cho T6 một cặp (02 bánh Heroine) và nhắn số điện thoại 0937.503.xxx, địa chỉ số A V, phường Đ, thành phố D để Đ bố trí người giao ma túy cho khách của T6. Sau đó, Đ nhắn tin đến số điện thoại của S nội dung “156 võ thị sáu đông hòa di an 0937503613” và gọi điện bảo S hẹn đưa hai cái xanh (02 bánh Heroine), S nói “ok”. S gọi đến số 0937503613 người nghe là giọng của một người đàn ông, S hỏi: Anh đang ở đâu để tôi qua đưa “tiền” thì người nghe nói địa chỉ “hẻm 156 võ thị sáu đông hòa di an”, S hỏi địa chỉ đó ở Bình Dương đúng không, thì người nghe nói đúng rồi, người này nói với S là người này đi xe ô tô màu đen. Sau khi gọi điện xác nhận người và địa chỉ để giao ma túy ở D, S lấy 02 (hai) bánh Heroine (trong số 70 bánh Heroine được giấu trong bánh xe ô tô dự phòng) bỏ vào một túi nilon màu đen cho vào cốp xe máy Vario biển kiểm soát 59S3-391.22 và đi xe máy đến điểm hẹn để giao ma túy. S đi xe máy đến đầu hẻm A V, Đ, D, Bình Dương lấy điện thoại gọi đến số 0937.503.xxx thì người nhận ma túy nói S đứng đó chờ, người nhận ma túy đang đi xe ô tô màu đen đến. Sang đợi tại đầu hẻm khoảng 15 phút thì có một xe ô tô màu đen đi đến rẽ vào hẻm A V khoảng 200 mét và dừng lại, S gọi đến số 0937503613 hỏi “anh mới chạy vô (vào) hẻm đúng không” thì người nhận ma túy nói đúng rồi, S chạy xe máy đi đến và dừng lại chỗ xe ô tô đang dừng, S mở cốp xe máy lấy túi nilon màu đen đựng 02 (hai) bánh Heroine ra, người nhận ma túy hạ cửa kính xe ô tô phía tay lái xuống, S đưa túi nilon màu đen đựng 02 (hai) bánh Heroine cho người nhận là người lái xe ô tô rồi đi xe máy về. S không quan sát và để ý xe ô tô có biển kiểm soát như thế nào, chỉ nhớ là xe ô tô 4 chỗ màu đen và không biết trên xe ô tô ngoài người nhận ma túy là người lái xe còn có ai nữa không. Người lái xe ô tô nhận 02 (hai) bánh Heroine đeo khẩu trang y tế, S không nhìn rõ mặt. Trên đường đi về, S gọi điện thông báo cho Đ là S đã giao xong 02 (hai) bánh Heroine, sau đó Đ thông báo cho T6 biết.
Lời khai của Nguyễn Văn T6 và Võ Thanh S phù hợp với lời khai của ban đầu Nguyễn Châu Đại T (Đ), phù hợp với diễn biến sự việc xẩy ra. Nguyễn Vĩnh C3 không khai và không thừa nhận về hành vi này. Tuy nhiên, căn cứ vào lịch sử cuộc gọi của số thuê bao 0937503613 và các số thuê bao Chí sử dụng, dữ liệu điện tử lưu trữ trong máy điện thoại thu giữ của C3 có đủ căn cứ xác định Nguyễn Vĩnh C3 là người sử dụng số thuê bao 0937503613 để nhận 02 (hai) bánh Heroine của Võ Thanh S.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T (Đ) và Võ Thanh S mua bán trái phép 02 (hai) bánh Heroine
có khối lượng 689,94 gam; Nguyễn Vĩnh C3 vận chuyển trái phép 02 (hai) bánh Heroine có khối lượng 689,94 gam (BL:372-437; 862-889; 1080-1109; 1262-1346; 1359-1380; 1391-1439).
4. Hành vi mua bán trái phép 65 (sáu mươi lăm) bánh Heroine khối lượng 22412,9 (hai mươi hai nghìn bốn trăm mười hai phẩy chín) gam Heroine của Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T và Võ Thanh S.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ điều tra thu thập được và lời khai của Võ Thanh S, ngày 28/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Thanh S, kết quả thu giữ 65 (sáu mươi lăm) bánh Heroine có tổng khối lượng 22.412,9 gam Heroine (hai mươi hai nghìn bốn trăm mười hai phẩy chín gam) (Kết luận giám định số 393/C09B ngày 07/01/2022 của Phân viện Khoa học hình sự Bộ C8 tại Thành phố Hồ Chí Minh) (BL 3666).
Bị can Võ Thanh S khai 65 (sáu mươi lăm) bánh Heroine bị thu giữ khi khám xét phòng trọ của S là số bánh Heroine còn lại trong tổng số 70 (bảy mươi) bánh Heroine được S lấy ra từ bánh xe ô tô theo chỉ đạo của Nguyễn Châu Đại T vào ngày 20/12/2021, sau khi đã bán 03 lần tổng cộng 05 bánh như đã nêu ở các hành vi trên.
Lời khai của Võ Thanh S, Nguyễn Văn T6 phù hợp với lời khai ban đầu của Nguyễn Châu Đại T (Đ), phù hợp với diễn biến sự việc xẩy ra. Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được và vật chứng thu giữ, có đủ căn cứ kết luận: Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T (Đ), Võ Thanh S mua bán trái phép 65 (sáu mươi lăm) bánh Heroine có khối lượng 22.412,9 gam Heroine (hai mươi hai nghìn bốn trăm mười hai phẩy chín gam) (BL: 372-437; 862-889; 1080-1109).
Trong vụ án này còn có một hành vi và một số đối tượng chưa đủ căn cứ kết luận:
- Theo lời khai của Võ Thanh S: khoảng 09 giờ ngày 20/12/2021, Đ gọi điện thoại bảo S “ai giao thì đi nhận đồ”, S hiểu là đi nhận ma túy (Heroine) nên S đồng ý. Một lúc sau có một người đàn ông gọi điện thoại cho S, hẹn giao ma túy tại Cầu sắt, phường A, Quận A, TP .. S đi xe máy nhãn hiệu Honda Vario biển kiểm soát 59S3-39122 ra cầu S thấy một người đàn ông S không quen biết và không rõ tên, tuổi địa chỉ cũng đi xe máy nhãn hiệu Honda V2 (không rõ biển số) hai bên xác nhận ra nhau bằng điện thoại. Người đàn ông nói qua điện thoại với S bảo giao đồ, S nói với người đàn ông này cứ bỏ “đồ” xuống đường rồi S đi lại nhận. Sau đó, người đàn ông đó để xuống đường 01 (một) túi nylon màu hồng rồi điều khiển xe máy đi luôn, S chạy xe máy đến lấy túi nylon màu hồng rồi kiểm tra thấy bên trong có 01 (một) bánh Heroine được bọc lớp giấy màu vàng nhạt, có kích thước khoảng 15cmx10,5cmx2,5cm. Nhận xong bánh Heroine S bỏ vào trong cốp xe máy Vario và gọi điện thoại thông báo cho Đ biết. Sau đó, Đ gọi điện thoại bảo S mang bánh Heroine giao cho khách của Đ ở quận G, TP .. Đại nhắn số điện thoại người nhận Heroine để S giao, S liên hệ đến số điện thoại và hẹn gặp một người phụ nữ không quen biết và giao cho người phụ nữ 01 (một) bánh Heroine
trên đường D, Phường E, quận G, TP .. Giao xong Heroine S thông báo cho Đ biết. Đối với hành vi này chỉ có lời khai của Võ Thanh S và không có chứng cứ nào khác. Do đó không đủ căn cứ kết luận S và Đ về hành vi này.
- Đối với người tên C4 quốc tịch Lào, sử dụng số điện thoại của nước Lào +8562098897789, bị can Nguyễn Văn T6 khai C4 là người bán và vận chuyển H2 đến TP . cho T6. Ngày 30/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 đã có yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự để xác minh làm rõ. Đến nay vẫn chưa nhận được kết quả ủy thác tư pháp để tiến hành xác minh điều tra làm rõ.
- Đối với người phụ nữ tên H1 ở khu vực chợ B2, quận B, TP ., sử dụng số điện thoại 0799.671.xxx, là người mua 01 (một) bánh Heroine của Đ. Do Đ và S không biết rõ tên tuổi địa chỉ cụ thể, T6 không biết người phụ nữ này, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được người phụ nữ này vì vậy không có điều kiện để làm rõ.
- Đối với người đi xe ô tô bán tải màu đen vận chuyển Heroine đến TP ., bị can Nguyễn Văn T6 khai là người của C4. Do Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T, Võ Thanh S khai không biết là ai, ở đâu vì vậy Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ, điều kiện xác minh, làm rõ.
- Đối với người sử dụng số điện thoại 0877.602.xxx, T6 khai là bạn của C3 gọi điện hỏi mua (hai) bánh Heroine của Nguyễn Văn T6. Do Nguyễn Văn T6 khai không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu; Nguyễn Châu Đại T và Võ Thanh S khai không biết người này; Nguyễn Vĩnh C3 không khai nhận về hành vi này. Kết quả xác minh thông tin: người đăng ký số điện thoại 0877.602.xxx là Lê Nguyễn Hoàng D1, sinh năm 1996; nơi thường trú: Khu phố H, phường H, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Cơ quan điều tra đã lấy lời Lê Nguyễn Hoàng D1, xác định chị D1 không sử dụng số điện thoại 0877.602.xxx và không liên quan đến hành vi phạm tội ma túy.
- Đối với Phan Công T7, Vũ Đỗ Trường Hoàng G, Nguyễn Bảo K, căn cứ tài liệu chứng cứ điều tra, lời khai của các đối tượng này và quá trình điều tra xác định các đối tượng Phan Công T7, Vũ Đỗ Trường Hoàng G, Nguyễn Bảo K không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội ma túy của Võ Thanh S và đồng phạm.
- Đối với người tên C1 và B theo lời khai của T6, do không rõ địa chỉ, nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra không có điều kiện, xác minh làm rõ.
- Quá trình điều tra xác định việc thanh toán tiền mua bán trái phép chất ma túy, Chăn người Lào yêu cầu Nguyễn Văn T6 trả tiền cho C4 thông qua tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3. Các bị can Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T, Võ Thanh S đã chuyển tiền trả cho C4 người Lào tổng số tiền là 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) qua tài khoản của Huỳnh Thị Lệ H3 vào ngày 24/12/2021 và ngày 25/12/2021 như sau: ngày 24/12/2021, Chăn người Lào nhắn tin cho Nguyễn Văn T6 tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3 và yêu cầu T6 chuyển tiền mua bán ma túy cho C4 vào số tài
khoản này. Nguyễn Văn T6 nhắn số tài khoản và bảo Nguyễn Châu Đại T (Đ) chuyển tiền mua bán ma túy. Đ gọi điện nhờ vợ chưa đăng ký kết hôn là Huỳnh Vũ Quỳnh A chuyển 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) vào tài khoản của Huỳnh Thị Lệ H3. Huỳnh Vũ Quỳnh A sử dụng tài khoản ngân hàng M1 số 1170108283005 của A chuyển 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3, A ghi nội dung “Dai chuyen” (Đại chuyển). Giao dịch chuyển tiền giữa tài khoản ngân hàng M1 của A đến tài khoản ngân hàng V3 của Huỳnh Thị Lệ H3 thành công, A chụp lại hình ảnh trên máy điện thoại gửi đến zalo nickname “Nguyễn Anh T9” của Đ, sau đó Đ gửi hình ảnh chuyển tiền thành công vào nickname “honanhdiem” của T6, T6 thông báo cho Chăn người Lào biết (BL: 350-351;770-790;1948). Trong ngày 24/12/2021, T6 gọi điện cho Nguyễn Việt D2, sinh năm: 1984, nơi thường trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, là người quen biết của T6 ngoài xã hội bảo D2 trả 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) mà trước đó D2 vay của T6. D2 dùng tài khoản ngân hàng S1 số 1012553366 của D2 chuyển vào tài khoản T13 số 19036286117010 của T6. Đồng thời, T6 mượn 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) của bạn là Hồ Cẩm T10, sinh năm 1995, nơi thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; T10 sử dụng tài khoản ngân hàng V3 số [...] của T10 chuyển 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) vào tài khoản T13 số 19036286117010 của T6. Sau khi D2 và T10 chuyển tiền vào tài khoản, T6 sử dụng tài khoản T13 số 19036286117010 chuyển số tiền 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng) cho C4 vào tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3. Giao dịch chuyển tiền thành công, T6 thông báo cho C4 biết (BL: 249;1948). Tối ngày 04/12/2021, Nguyễn Văn T6 gọi điện bảo Nguyễn Châu Đại T (Đ) cho người đến khách sạn nơi T6 nghỉ lấy tiền gửi cho C4. Đ bảo Võ Thanh S đến khách sạn gặp T6 lấy 190.000.000 đồng (một trăm chín mươi triệu đồng) và nhắn số tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3 để S chuyển tiền vào. Sang đến khách sạn gặp T6 nhận tiền và đến tiệm C9 để chuyển tiền. Theo đề nghị của S, tiệm cầm đồ Kim N1 thực hiện chuyển 190.000.000 đồng (một trăm chín mươi triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng của Huỳnh Thị Lệ H3 (chuyển tiền đến từ NAPAS, nội dung “DAI GUI”) từ tài khoản ngân hàng A2 số [...] của Trần Kim N2. Sau khi S chuyển tiền thành công, thông báo cho Đ, Đ thông báo cho T6 và T6 thông báo cho C4 (BL: 1027-1067;1948). Ngày 25/12/2022, T6 gọi điện thoại bảo Nguyễn Châu Đại T xem có tiền chuyển vào tài khoản của Huỳnh Thị Lệ H3 cho C4. Đ gọi điện hỏi vay tiền và đến nhà của Phạm Hoàng H4 (cháu rể của Đ) nhờ H4 chuyển 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3. Phạm Hoàng H4 dùng tài khoản T13 số19034665097016 của H4 thực hiện việc chuyển 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) vào tài khoản của Huỳnh Thị Lệ H3 giúp Đ. Giao dịch chuyển tiền thành công, Đ chụp hình ảnh từ máy điện thoại của H4 và gửi vào zalo cho T6, T6 thông báo cho C4 biết (BL: 352-353;791-852;1948). Các giao dịch chuyển tiền cho C4 thể hiện tại sao kê tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3 và các tài khoản T13 của Nguyễn
Văn T6, tài khoản MB của Huỳnh Vũ Quỳnh A, tài khoản A2 của Trần Kim N2, tài khoản T13 của Phạm Hoàng H4. Hình ảnh giao dịch chuyển tiền thành công của Huỳnh Vũ Quỳnh A, Phạm Hoàng H4 hiện còn lưu trữ trong điện thoại của Nguyễn Châu Đại T và Nguyễn Văn T6.
Cơ quan điều tra xác minh những người liên quan đến việc chuyển tiền xác định được:
- Huỳnh Thị Lệ H3 (sinh năm 1968, nơi đăng ký hộ khẩu tại số D phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; hiện đang định cư tại CHDCND L) khai: Năm 1995, Huỳnh Thị Lệ H3 sang Lào định cư tại địa chỉ số D, bản N, Viêng C6, Lào cùng chồng là Lê Y, sinh năm 1966 nhưng không cắt hộ khẩu thường trú tại thành phố Đà Nẵng. H3 có quốc tịch Lào tên là “Vongphet Louang K1”. Vợ, chồng H3 mở quầy dịch vụ thu đổi ngoại tệ để nhận, chuyển tiền cho khách tại Lào khi có nhu cầu. Việc kinh doanh được Ngân hàng T14 cấp phép và hoạt động dưới sự giám sát của Ngân hàng TMCP V4. Ngoài ra H3 còn làm thêm dịch vụ nhận, chuyển tiền từ các tài khoản ngân hàng Việt Nam để phục vụ khách hàng tại Lào có nhu cầu nhận, chuyển tiền, Hải đăng ký mở, sử dụng nhiều tài khoản trong đó có tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng V3. Loại tiền chuyển đến, chuyển đi là tiền Việt Nam và chỉ sử dụng tài khoản Việt Nam. Sau khi giúp khách chuyển tiền thành công, H3 thu phí là 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng)/100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Sau khi khách hàng chuyển tiền vào tài khoản, H3 thực hiện theo yêu cầu của khách hàng chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng Việt Nam khác. Hằng ngày, có nhiều khách hàng đến quầy dịch vụ của H3 để nhờ H3 chuyển tiền nhanh, H3 không nhớ, không biết ai là khách đến chuyển tiền, chuyển tiền cho ai, với mục đích gì.
- Huỳnh Vũ Quỳnh A (sinh năm 1990, nơi thường trú: A L, phường T, Quận G, TP .; nơi ở: 271/72/21 L, phường T, Quận G, TP .), khai: Khoảng tháng 3/2021, A quen biết sau đó quan hệ tình cảm và sống với Nguyễn Châu Đại T (Đ) như vợ chồng, A mang bầu con gái của Đ và đang làm thủ tục kết hôn thì Đ bị bắt về tội ma túy. Ngày 08/3/2022, An sinh con gái Nguyễn Châu Quỳnh A1. Quá trình quan hệ với Đ, A biết Đ làm nghề cho vay lãi họ, không biết Đ mua bán ma túy và không tham gia vào những việc làm của Đ. Ngày 24/12/2021, Đ gọi điện nhờ A chuyển 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cho người khác, Đại nhắn số tài khoản người nhận để A chuyển tiền. A dùng tài khoản ngân hàng Q (MB) của A số 1170108283005 thực hiện chuyển tiền qua internet banking số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), A thực hiện chuyển và kiểm tra số tài khoản có tên là Huynh Thi Le H5, ghi nội dung “Đại chuyển” giao dịch chuyển số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng V3 số [...] của Huỳnh Thị Lệ H3 thành công, A chụp lại hình ảnh chuyển tiền gửi vào zalo của Đ. Số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) là tiền của Đ gửi A giữ hộ trước ngày Đ đi cách ly Covid 19, A đã mang số tiền này nộp vào tài khoản MB của A. A không biết Đ nhờ A chuyển tiền là tiền thanh toán việc gì.
- Trần Kim N2 (sinh năm 1988, nơi thường trú và nơi ở: 49 N, tổ G, khu phố A, phường H, Quận A, TP .), khai: Gia đình N2 được cấp phép đăng ký kinh doanh dịch vụ cầm đồ Kim N2 tại địa chỉ D N, tổ G, khu phố A, phường H, Quận A, TP .. Cửa hàng cầm đồ Kim N2 do Phạm Thị H6, sinh năm 1972 (mẹ N2) đứng tên đăng ký. Ngoài ra khi có ai đó không muốn đến ngân hàng chuyển tiền thì họ tìm đến cửa hàng cầm đồ Kim N2 để nhờ cửa hàng chuyển tiền nhanh đến tài khoản người nhận, phí chuyển tiền là 100.000 đồng/100.000.000 triệu đồng. Trần Kim N2 mở tài khoản tại ngân hàng Á (A2) số tài khoản 676818888 để phục vụ công việc của bản thân và phục vụ kinh doanh của cửa hàng cầm đồ Kim N2. Hằng ngày, có nhiều khách đến cửa hàng cầm đồ Kim N2 để chuyển tiền nhanh, N2 không nhớ, không biết là ai, N2 chỉ thực hiện theo yêu cầu của khách, không biết ai là người đến chuyển tiền, chuyển tiền cho ai với mục đích gì.
- Phạm Hoàng H4 (sinh năm: 1985, nơi thường trú: 17P12 L, phường B, Quận A, TP .; nơi ở hiện tại: 3 P, phường A, quận B, TP .), khai: H4 mở tài khoản ngân hàng T13 số 19034665097016 để phục vụ công việc của bản thân, H4 là cháu rể của Nguyễn Châu Đại T (H4 gọi Đ là cậu). Ngày 25/12/2021, Đ gọi điện thoại hỏi vay 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) của H4, sau đó Đ đến nhà H4 gặp và đưa số tài khoản và nhờ H4 chuyển tiền đến số tài khoản Đ đưa, H4 thực hiện chuyển khoản theo yêu cầu của Đ, giao dịch chuyển tiền thành công, Đ chụp lại hình ảnh chuyển tiền. Khoảng ngày 27/12/2021, Đ trả cho H4 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) tiền mặt. Phạm Hoàng H4 khai cho Đ vay và thực hiện chuyển tiền vào tài khoản theo yêu cầu của Đ. H4 không biết Đ chuyển tiền đến tài khoản của ai, với mục đích gì, không biết Đ hoạt động mua bán ma túy và vay tiền của H4 để trả tiền mua bán ma túy.
- Nguyễn Việt D2 (sinh năm: 1984, nơi thường trú: K, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An) khai: D2 và T6 là anh em xã hội và không có làm ăn gì chung, khoảng giữa tháng 12/2021 D2 dự định mua một mảnh đất ở xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, do chưa có tiền đặt cọc mua nên hỏi vay T6 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), T6 đồng ý cho D2 vay, hẹn khoảng 2 tuần sau trả lại. D2 đến nhà T6 nhận 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) tiền mặt để đi đặt cọc mua đất nhưng không mua được. D2 gọi điện để trả lại tiền thì T6 nói T6 đang ở xa khi nào về sẽ lấy, đến ngày 24/12/2021 T6 gọi điện bảo D2 trả tiền vào tài khoản cho T6, D2 sử dụng tài khoản ngân hàng S1 số 1012553366 của chuyển vào tài khoản T13 của T6. Nguyễn Việt D2 khai không biết T6 hoạt động mua bán ma túy và không liên quan đến hành vi phạm tội của T6.
- Hồ Cẩm T10 (sinh năm 1995, nơi thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An), khai: Khoảng đầu tháng 11/2021, T10 quen biết sau đó quan hệ tình cảm với T6. Quá trình quen biết, T10 không biết T6 hoạt động liên quan đến ma túy. Ngày 24/12/2021 T10 ở cùng khách sạn, T6 hỏi mượn Thúy 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để giải quyết công việc, do T10 không có đủ tiền cho T6 mượn nên chỉ cho T6 mượn 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng), T6 bảo T10 chuyển tiền vào tài khoản cho T6. Hồ Cẩm T10 khai không biết mục đích T6
mượn 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) của T10 để làm gì. Do có quan hệ tình cảm, T10 đã cho T6 mượn tiền và chuyển tiền vào tài khoản theo yêu cầu của T6. T10 không tham gia vào việc mua bán ma túy của T6.
Quá trình điều tra vụ án xác định những người có hoạt động chuyển tiền nêu trên: có người hưởng lợi trong việc chuyển tiền theo dịch vụ có đăng ký kinh doanh; có người chỉ chuyển tiền giúp vì có quan hệ gia đình. Quá trình được nhờ, thuê chuyển tiền họ không biết là tiền gì và chuyển tiền với mục đích gì do vậy không có căn cứ để xử lý đối với hành vi chuyển tiền của Huỳnh Thị Lệ H3, Huỳnh Vũ Quỳnh A, Trần Kim N2, Phạm Hoàng H4, Nguyễn Việt D2, Hồ Cẩm T11.
- Đối với Phạm Thị Đ2: Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 xác định được người đăng ký số điện thoại 0969.655.xxx là Phạm Thị Đ2, sinh năm 1967, nơi thường trú và nơi ở: Số E Đ, xóm A, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Do Phạm Thị Đ2 không có mặt tại địa phương, ngày 20/5/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 ra Quyết định truy tìm đối với Phạm Thị Đ2. Ngày 30/6/2022, Công an xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An bàn giao Phạm Thị Đ2 cho Cơ quan điều tra để lấy lời khai làm rõ; kết quả Phạm Thị Đ2 khai không sử dụng số điện thoại 0969.655.xxx, do chồng là Nguyễn Văn T12 có tính lăng nhăng, nhiều mối quan hệ phức tạp (trai, gái) để theo dõi, quản lý chồng, khoảng tháng 12/2020 Đ2 mua số điện thoại 0969.655.xxx đứng tên đăng ký và đưa cho T12 sử dụng. Thường sử dụng số điện thoại 0969.655.xxx từ khoảng tháng 12/2020 đến tháng 3/2021 (khoảng 03 tháng) thì Đ2 và T12 xảy ra mâu thuẫn cãi nhau do Đ2 nghi ngờ Thường có quan hệ trai gái bên ngoài. Đào đã lấy điện thoại của T12 sử dụng (điện thoại có gắn sim số 0969.655.xxx) đập vỡ điện thoại và vứt đi. Đào và T12 không sử dụng số điện thoại 0969.655.xxx nữa nhưng không báo với nhà mạng để khóa hay hủy sim đi và không biết ai, ở đâu sử dụng số điện thoại 0969.655.xxx. Phạm Thị Đ2 còn khai năm 2010, gia đình Đ2 thành lập Công ty Cổ phần T15, do chồng là Nguyễn Văn T12 làm giám đốc, Công ty kinh doanh, khai thác gỗ tại tỉnh Atapư, Lào. Để phục vụ công việc của Công ty và gia đình, vợ chồng Đ2 mua và sử dụng 04 chiếc xe ô tô do Đ2 đứng tên đăng ký, trong đó có 01 (một) chiếc xe bán tải màu đen, biển kiểm soát 37C-379.23 gia đình Đ2 mua từ đầu năm 2021 mục đích để làm phương tiện đi lại và di chuyển sang Lào phục vụ việc kinh doanh mua bán gỗ nhưng do dịch C, gia đình Đ2 chưa đưa xe ô tô 37C-379.23 sang Lào được. Gia đình Đ2 không cho ai thuê, mượn xe ô tô 37C-379.23; khoảng thời gian từ ngày 18/12/2021 đến ngày 22/12/2021 xe ô tô 37C-379.23 được để tại địa chỉ Số E Đ, xã N, thành phố V, Nghệ An (nhà Đ2); xe ô tô có lắp định vị để xác định hành trình lưu thông của xe; thời gian dịch bệnh Covid 19 phức tạp chồng là Nguyễn Văn T12 ở Lào khai thác gỗ, không về Việt Nam được; khoảng qua Tết Nguyên Đán năm 2022, T12 về Việt Nam có sử dụng chiếc xe ô tô để đi lại ở thành phố V, tỉnh Nghệ An. Phạm Thị Đ2 khai không biết, không có quan hệ làm ăn với Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T, Võ Thanh S.
Nghi vấn xe ô tô biển kiểm soát 37C-379.23 của gia đình Phạm Thị Đ2 có điểm giống với chiếc xe ô tô bán tải vận chuyển ma túy giao cho bị can Võ Thanh S ngày 20/12/2021. Khi được giải thích quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, Phạm Thị Đ2 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe ô tô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger màu đen, biển kiểm soát 37C-379.23 để phục vụ công tác điều tra. Ngày 01/7/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã Quyết định tạm giữ đối với: Xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger màu đen, biển kiểm soát 37C-379.23, số khung: MNCLMFF80LW103056, số máy: P4AT2927328; kèm theo bộ giấy tờ xe gồm: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 128183 mang tên Phạm Thị Đ2, sinh năm 1967; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số: KD3774023 cấp cho xe biển số 37C-379.23 để phục vụ công tác điều tra. Ngày 14/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 Quyết định T16 Bộ C8 phục hồi, sao lưu dữ liệu lưu trữ trong thiết bị; trích xuất cung cấp lộ trình di chuyển của thiết bị điện tử trong thời gian từ ngày 19/12/2021 đến ngày 22/12/2021 đối với thiết bị giám sát hành trình của xe ô tô biển kiểm soát 37C-379.23 (định vị). Tại Kết luận giám định số 8645/KL-KTHS ngày 01/02/2023 của V5 Bộ C8 kết luận: Không phục hồi và trích xuất được dữ liệu trong các thiết bị điện tử mẫu cần giám định; Không tìm thấy dữ liệu lộ trình di chuyển của xe ô tô nhãn hiệu Ford Ranger màu đen, biển kiểm soát 37C-379.23 trong khoảng thời gian từ ngày 19/12/2021 đến ngày 22/12/2021.
- Nguyễn Văn T12 (sinh năm 1972, nơi thường trú: Số E Đ, xã N, thành phố V, Nghệ An), khai: Gia đình Thường thành lập Công ty CP T15 từ tháng 3/2010 để kinh doanh và khai thác gỗ tại tỉnh Atapư, Lào. Thường sử dụng 02 (hai) số điện thoại 0766.237.xxx, 0768237237 để liên lạc, trước đây vào khoảng cuối năm 2020, T12 có sử dụng số điện thoại 0969.655.xxx, số điện thoại do vợ là Phạm Thị Đ2 đứng tên đăng ký và đưa cho T12 sử dụng, T12 sử dụng được khoảng hơn 03 tháng (đến khoảng đầu năm 2021) thì vợ, chồng T12 mâu thuẫn cãi nhau do ghen tuông nên Đ2 đã lấy máy điện thoại của T12 có sim 0969655678 đập vỡ điện thoại và vứt bỏ đi. Sau đó, Đ2 mua sim số 0964740510 đưa cho T12 sử dụng. Thường chủ yếu liên lạc bằng mạng xã hội như Zalo, W khi làm việc tại tỉnh Atapư Lào cũng như khi về Việt Nam. Chiếc xe ô tô bán tải Ford Ranger màu đen, biển kiểm soát 37C-379.23 là chiếc xe của gia đình mua vào khoảng đầu năm 2021 do vợ đăng ký, mục đích để làm phương tiện đi lại và đưa sang Lào nhưng do dịch chưa đưa sang được. Khoảng thời gian từ ngày 19/12/2021-21/12/2021, T12 đang làm ăn tại Lào, không về Việt Nam nên không sử dụng xe ô tô Ford Ranger 37C-379.23 để đi lại, thời gian này xe ô tô 37C-379.23 để ở nhà. Nguyễn Văn T12 khai không biết, không quan hệ với Võ Thanh S; đối với Nguyễn Văn T6, do quê Thường ở thôn H, xã Q nên T12 biết T6 từ khi còn là học sinh, biết T6 đã từng làm giáo viên và đi tù về tội liên quan đến ma túy. Thường chỉ biết T6 nhưng không hợp tác làm ăn gì với nhau. Thường không liên lạc, không có số điện thoại của T6. Thường có quen biết người tên Thong C7 trước đây làm Giám đốc Công an tỉnh A, Lào nay đã nghỉ hưu. Ngoài ra T12 không biết ai khác tên C7, quốc tịch Lào.
Căn cứ tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra không có cơ sở xác định Phạm Thị Đ2, Nguyễn Văn T12 và chiếc xe ô tô nêu trên liên quan đến vụ án.
- Trong vụ án còn một số người đứng tên chủ thuê bao các số điện thoại di động mà các bị can trong vụ án đang sử dụng và bị thu giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 đã tiến hành xác minh, ghi lời khai và xác định những người này không liên quan đến vụ án.
Kết quả xác minh về vật chứng và tài sản thu giữ: khi khám xét Cơ quan điều tra đã thu giữ của các bị can một số vật chứng, đồ vật, tài sản (có bảng kê kèm theo) hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ C8 đang quản lý sẽ chuyển kèm theo hồ sơ vụ án để Tòa án xem xét quyết định trong quá trình xét xử theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh tại Sở T17, cơ quan quản lý đất đai nơi các bị can đăng ký cư trú và một số ngân hàng... xác định các bị can không đứng tên chủ sở hữu quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và cũng không có tiền gửi tại các ngân hàng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 162/2024/HSST ngày 12-4-2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Căn cứ vào điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Xử phạt: bị cáo Nguyễn Châu Đại T tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Châu Đại T để đảm bảo thi hành án.
- Xử phạt: bị cáo Võ Thanh S tử hình, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Thanh S để đảm bảo thi hành án.
- Căn cứ vào điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh Chí tử h, về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 để đảm bảo thi hành án.
- Miễn khoản tiền phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T, Võ Thanh S và Nguyễn Vĩnh C3.
- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về phần tội danh và hình phạt của bị cáo Nguyễn Văn T6; về tịch thu tiêu hủy, tịch thu nộp ngân sách nhà nước, trả lại cho bị cáo và chủ sở hữu hợp pháp, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 17-4-2024, bị cáo Võ Thanh S có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 19-4-2024, bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 có đơn kháng cáo với nội dung kêu oan.
Ngày 22-4-2024, bị cáo Nguyễn Châu Đại T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo Võ Thanh S, Nguyễn Vĩnh C3, Nguyễn Châu Đại T vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bán án hình sự sơ thẩm số 162/2024/HS-ST ngày 12/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hình thức đơn kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
1/ Bị cáo Nguyễn Châu Đại T và bị cáo Võ Thanh S bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo Nguyễn Châu Đại T và bị cáo Võ Thanh S kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
2/ Bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tử hình về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 kháng cáo kêu oan.
3/ Bị cáo Nguyễn Văn T6 bị tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, bị cáo không kháng cáo.
[1] Nội dung: Tại phiên Tòa, bị cáo T, bị cáo S thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm được tóm tắt nêu trên.
[2] Nhận định của Hội đồng xét xử: Đây là vụ án mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn, đặc biệt nghiêm trọng, mang tính chất xuyên quốc gia, nguồn ma túy được các đối tượng vận chuyển từ Lào đến thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ từ ngày 19/12 đến ngày 28/12/2021. Nguyễn Văn T6 cùng với Nguyễn Châu Đại T và Võ Thanh S mua 70 bánh Heroin của đối tượng C7 (quốc tịch Lào), sau đó cất giấu tại chỗ ở của Võ Thanh S tại 350/21/37, tổ A, khu phố D, phường A, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh, đem bán được 05 bánh còn lại 65 bánh chưa kịp tiêu thụ thì bị bắt giữ. Trong vụ án này Nguyễn Văn T6 là người chủ mưu, cầm
đầu, cấu kết móc nối với người tên C7 (quốc tịch Lào). Theo thỏa thuận, C7 giao ma túy cho T6 tại thành phố Hồ Chí Minh và ma túy được giấu trong bánh xe ô tô dự phòng để vận chuyển đến thành phố Hồ Chí Minh. T6 móc nối với Nguyễn Châu Đại T tại thành phố Hồ Chí Minh để Đại Trang nhận ma túy từ người của C7 vận chuyển đến, cất giấu và bán tại các tỉnh phía nam. Thực hiện chỉ đạo của Nguyễn Châu Đại T, Võ Thanh S là người trực tiếp nhận, cất giấu ma túy tại nơi ở, mang ma túy đi bán cho người mua theo chỉ đạo của bị cáo T6 và T. Như vậy, với khối lượng ma túy đã cất giấu trái phép nhằm mục đích mua bán, với hành vi nêu trên bị cáo Nguyễn Văn T6, bị cáo Nguyễn Châu Đại T và bị cáo Võ Thanh S phải chịu trách nhiệm hình sự đồng phạm về hành vi mua bán trái phép chất ma túy là heroin với tổng khối lượng là: 24.147,91 gam heroin. Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T6, Nguyễn Châu Đại T và Võ Thanh S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội.
Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 thì thấy: bị cáo C3 không thừa nhận hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng căn cứ vào các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: lời khai của bị cáo T6, bị cáo S, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28/12/2021; các chứng cứ dữ liệu điện tử như: các sim số điện thoại thu giữ được của bị cáo C3, các sim số điện thoại trao đổi mua bán heroin với bị cáo T6 đã chứng minh bị cáo C3 đã có hành vi vận chuyển trái phép: 02 bánh heroin có khối lượng 689,94 gam vào ngày 24/12/2021 và 02 bánh heroin có khối lượng 700,1 gam vào ngày bắt quả tang 28/12/2021, nên bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi vận chuyển trái phép 04 bánh heroin, tổng khối lượng 1.390,04 gam heroin. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 mà cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng người, đúng tội không làm oan bị cáo cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Vĩnh C3.
[3] Xét về phần lượng hình: hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước và gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác, vì vậy cần xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên, khi lượng hình cấp sơ thẩm cũng đã xem xét đến tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của các bị cáo nhưng do số lượng ma túy mà bị cáo mua bán, vận chuyển là đặc biệt lớn (24.147,91gam heroin), vì vậy mà cấp sơ thẩm đã áp dụng khung hình phạt cao nhất cần loại bỏ các bị cáo ra
khỏi đời sống xã hội vĩnh viễn để phòng ngừa chung cho xã hội là phù hợp cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, bị cáo S đồng thời không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo C3.
[4] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 162/2024/HS-ST ngày 12/4/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Châu Đại T; bị cáo Võ Thanh S.
Không chấp nhận kháng cáo kêu oan của bị cáo Nguyễn Vĩnh C3.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 162/2024/HS-ST ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Châu Đại T, bị cáo Võ Thanh S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Vĩnh C3 phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 251, điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 40 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt: Nguyễn Châu Đại T tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Xử phạt: Võ Thanh S tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 250; điểm g, h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vĩnh Chí tử h về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Miễn khoản tiền phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Châu Đại T, Võ Thanh S và Nguyễn Vĩnh C3.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Châu Đại T, Võ Thanh S, Nguyễn Vĩnh C3 phải chịu mỗi bị cáo 200.000 đồng.
Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo T, bị cáo S và bị cáo C3 được quyền gởi đơn lên chủ tịch nước để xin ân giảm án tử hình.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Các thẩm phán | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
| Phan Nhựt Bình | Phan Văn Yên |
| Hồ Thị Thanh Thúy |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |
Bản án số 827/2024/HS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 827/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sư sơ thẩm.
