|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 826/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/7/2024 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Quản;
2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Phú Tuấn – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Yến Hoà - Kiểm sát viên sơ thẩm
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12 xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 684/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 916/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1982 - Có đơn xin xét xử vắng mặt;
Địa chỉ: 9 đường H, Khu phố F, Tổ A, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm 1974 – Vắng mặt;
Địa chỉ: H Tổ H, Khu phố F, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn, bản tự khai, các biên bản hòa giải, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu L trình bày:
Ông Lê Thanh T và bà Nguyễn Thị Thu L tổ chức đám cưới và về chung sống với nhau từ tháng 11/2006. Nhưng đến năm 2007 thì mới đi đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 49 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 17/7/2007.
Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Nhưng đến năm 2018 đã bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T không tập trung làm ăn mà chỉ chơi bời, cờ bạc bên ngoài. Đã vậy, ông T lại không còn quan tâm đến vợ con, để mặc một mình bà Lưu nuôi con. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống và hàn gắn được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn.
Về con chung: Có con chung Lê Thị Phương T1, sinh ngày 07/03/2008.
Nếu được ly hôn, bà L yêu cầu được nuôi con chung, không cần cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung, và các nghĩa vụ dân sự khác: Không có
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bị đơn là ông Lê Thanh T nhưng ông T đều vắng mặt tại Tòa không rõ lý do và Tòa án cũng không nhận được bất kỳ văn bản trình bày ý kiến của ông T đối với các yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng: Đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Vì lợi ích mọi mặt của trẻ đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con chung Lê Thị Phương T1 cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Nguyễn Thanh T2 do bà Nguyễn Thị Thu L chưa có yêu cầu.
Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Nguyễn Thị Thu L xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đang cư trú tại Quận A nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thu L có đơn xin xét xử vắng mặt. Sau khi thụ lý, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Lê Thanh T nhưng ông T đều vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về nội dung tranh chấp:
[3.1]. Về hôn nhân:
Ông Lê Thanh T và bà Nguyễn Thị Thu L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại do Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn kết hôn số 49 ngày 17/7/2007 nên là hôn nhân hợp pháp.
Thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà L có đơn xin ly hôn. Tại bản tự khai và các biên bản hòa giải bà L đều xác định không thể tiếp tục cuộc sống hôn nhân, chỉ có mẫu thuẫn kéo dài. Kết quả xác minh về quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà L tại Ủy ban nhân dân phường H, Quận A thể hiện: “...Mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Lê Thanh T địa phương không nắm rõ”.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, có đủ cơ sở kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa ông Lê Thanh T và bà Nguyễn Thị Thu L thực sự mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, cùng nhau nuôi dạy con cái. Xét thấy, đời sống chung giữa vợ chồng ông T và bà Lưu 1 vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được được nên căn cứ các Điều 19, 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L.
[3.2]. Về con chung: Ông Lê Thanh T và bà Nguyễn Thị Thu L có 01 con chung tên Lê Thị Phương T1, sinh ngày 07/03/2008.
Bà Nguyễn Thị Thu L có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Lê Thị Phương T1, không cần cấp dưỡng.
Ngày 11/03/2024, tại bản tự khai cháu T1 cho biết nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy cháu T1 hiện đang chung sống cùng mẹ. Cháu T1 đang trong độ tuổi rất cần có sự quan tâm, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục nên việc giao cho ai nuôi dưỡng cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con. Vì vậy, để đảm bảo sự ổn định nơi ăn ở, học hành, sự ổn định về tinh thần, sức khỏe cần giao cháu T1 cho bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Lê Thanh T do bà Nguyễn Thị Thu L chưa có yêu cầu.
[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Nguyễn Thị Thu L xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
[4]. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình.
[5]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 54; Điều 56; Điều 57; Điều 58 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2022.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1.1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thu L được ly hôn với ông Lê Thanh T.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 49 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 17/7/2007 không còn giá trị pháp luật.
1.2. Về con chung: Ông Lê Thanh T và bà Nguyễn Thị Thu L có 01 con chung tên Lê Thị Phương T1, sinh ngày 07/03/2008.
Giao con chung Lê Thị Phương T1 cho bà Nguyễn Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con của ông Lê Thanh T do bà Nguyễn Thị Thu L chưa có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng cho con.
1.3. Về tài sản chung, nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Nguyễn Thị L xác định không có nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0021846 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thu L đã nộp đủ án phí.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b, 7c và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2022. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2022.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Minh Hà |
Bản án số 826/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 826/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LH
