Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 826/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 21/8/2023

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN – TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thùy Châu và ông Nguyễn Ron

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Trâm - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 502/2023/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 182/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Mỹ H, sinh năm: 1975 “vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”

Địa chỉ: 3 N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

- Bị đơn: Anh Lê Xuân Đ, sinh năm: 1978 “vắng mặt”

Địa chỉ: 3 N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đoàn Thị Mỹ H trình bày:

Chị và anh Lê Xuân Đại tự n tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn vào ngày 28/01/2002 tại UBND phường N, TP . Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do anh Đ không lo làm ăn, thường xuyên ăn chơi nhậu nhẹt, cờ bạc, gây ra nợ nần, sống không có trách nhiệm với gia đình, không quan tâm chăm sóc cho gia đình, vợ con, chị phải là người tự lo mọi việc trong gia đình từ con cái đến kinh tế. Chị đã khuyên giải rất nhiều lần nhưng anh Đ không nghe, mâu thuẫn ngày càng lớn nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm, trách nhiệm vợ

chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Đại để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên: Lê Đoàn Mỹ D, sinh ngày 07/7/2002 và Lê Văn Q, sinh ngày 11/7/2003. Hiện nay 02 con đã trên 18 tuổi, sức khỏe bình thường, đã tự lập được nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa giải quyết.

- Bị đơn anh Lê Xuân Đ đã được Toà triệu tập hợp lệ đến Tòa để khai báo, để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và để tham gia phiên tòa nhưng anh Đ đều vắng mặt, không có lý do.

- Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về việc giải quyết vụ án đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Đoàn Thị Mỹ H được ly hôn với anh Lê Xuân Đ; án phí đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa chị Đoàn Thị Mỹ H và anh Lê Xuân Đ là tranh chấp về Ly hôn; Anh Lê Xuân Đ là bị đơn có địa chỉ cư trú tại 3 N, phường N, thành phố Q nên căn cứ quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

[2] Về tố tụng: Chị Đoàn Thị Mỹ H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Lê Xuân Đ là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh Đ.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Mỹ H và anh Lê Xuân Đại tự n đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/01/2002 tại UBND phường N, TP . nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Theo chị H thì nguyên nhân là do anh Đ cờ bạc gây nợ nần, không lo làm ăn, không có trách nhiệm, không quan tâm đến gia đình, chị đã khuyên giải rất nhiều lần nhưng anh Đ không nghe nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng

sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, cả hai không còn sự quan tâm và không còn có trách nhiệm với nhau.

Quá trình giải quyết vụ án anh Đ cố tình vắng mặt không đến Tòa. Ngày 08/6/2023 Tòa đã kết hợp với chính quyền địa phương đến nhà anh Đại đ lấy lời khai nhưng không có anh Đ ở nhà, vì vậy Tòa đã lập biên bản lấy lời khai không được để làm bằng. Sau phiên hòa giải ngày 26/6/2023, chị H đã có đơn xin không tiếp tục tiến hành hòa giải và xin Tòa xét xử vắng mặt. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng chị H anh Đ có 02 người con chung là Lê Đoàn Mỹ D, sinh ngày 07/7/2002 và Lê Văn Q, sinh ngày 11/7/2003, hiện nay đã trên 18 tuổi, sức khỏe bình thường, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

Tuyên xử :

1 - Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Đoàn Thị Mỹ H. Chị H được ly hôn anh Lê Xuân Đ.

2 - Về con chung: Chị H anh Đ có 02 người con chung là Lê Đoàn Mỹ D, sinh ngày 07/7/2002 và Lê Văn Q, sinh ngày 11/7/2003. Hiện nay cháu D, cháu Q đã trên 18 tuổi, sức khỏe bình thường, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3 - Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

4 - Về án phí: Chị Đoàn Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai số 0003801 ngày 24/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị H đã nộp đủ tiền án phí.

5 - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSNDTP. Quy Nhơn

- CC THA Tp.Quy Nhơn

- UBND P. Ngô Mây, TP. Quy Nhơn

(Giấy CNKH số 15 ngày 28/01/2002)

- Các đương sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Hồng Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 826/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN – TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 826/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN – TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H yêu cầu ly hôn anh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger