Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 826/2024/HS-PT

Ngày: 13 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười

Ông Cao Văn Tám

Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 494/2024/TLPT-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, do có kháng cáo của bị cáo Phạm Trung D đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5262/2024/QĐXXPT - HS ngày 23 tháng 8 năm 2024, đối với:

Bị cáo kháng cáo:

Phạm Trung D; sinh ngày 25/01/1990 tại Thái Bình; thường trú: 23/11 Nguyễn Văn T, tổ A, ấp B, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: V6-33.02 S, B N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phạm Cao S và bà Đinh Thị H; có vợ và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không có; Bị bắt, tạm giam từ ngày 02/6/2022.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trung D: Luật sư Trần Minh H1 – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Bị hại: Đại diện Chính phủ Úc. (không triệu tập)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thùy D1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: V6-33.02 S, B N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng tháng 5/2020, Văn phòng L1 (viết tắt AFP) trao đổi với Văn Phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Bộ C với nội dung: Hiện nay AFP đang điều tra một đường dây tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền thông qua chính sách “Tạm cấp sớm tiền hưu trí” (ERS) trong dịch Covid-19 cho công dân Úc. Lợi dụng chính sách này, các đối tượng đã tạo lập các tài khoản giả mạo là công dân Ú rồi chiếm đoạt số tiền khoảng 1.000.000 Đô la Úc, tương đương khoảng 16.000.000.000 đồng.

Cuối tháng 5/2020, Phòng C1 Công an Thành phố H phối hợp cùng Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Bộ C đã xác định được Phạm Trung D đã sử dụng thông tin giả mạo công dân Úc để chiếm đoạt tiền của Chính phủ Úc, cụ thể như sau:

Khoảng đầu năm 2020, Phạm Trung D quen biết với Lê Quang H2 (không rõ địa chỉ) thông qua mạng xã hội. Khi biết D cần mua thông tin của công dân Úc để tạo tài khoản trên trang Ebay.com.au bán hàng trực tuyến cho công dân Úc, H2 đã cung cấp rất nhiều thông tin của công dân Ú cho D sử dụng để lập tài khoản Ebay. Trong khoảng thời gian này, H2 có nói cho D biết cách lấy thông tin của công dân Ú và D có thể lấy tiền thông qua những tài khoản ngân hàng do hiện nay Chính phủ Úc đang thực hiện chính sách hỗ trợ công dân phòng chống dịch Covid-19 bằng việc cấp sớm tiền hưu trí.

Để có được thông tin của công dân thuộc diện được trợ cấp, H2 thực hiện bằng cách xâm nhập vào các trang thông tin của Chính phủ Úc để lấy thông tin, còn D tạo ra các tài khoản tại cổng thanh toán quốc tế P liên kết với tài khoản của D tại Ngân hàng TMCP S1 (viết tắt S2), rồi cung cấp cho H2 để đăng ký với cơ quan sở tại của Chính phủ Úc. Khi có được tài khoản do D cung cấp, H2 đăng ký qua trang web mygov.com.au (T1 thông tin điện tử của Chính phủ Úc) để được nhận tiền trợ cấp. Sau đó, D thấy các tài khoản đã nhận được số tiền khoảng 480.000.000 đồng, tương đương khoảng 30.000 AUD (Đô la Úc). D đã đến các trụ ATM của S2 để rút số tiền trên và báo cho H2 biết, đồng thời H2 yêu cầu D cung cấp thêm nhiều tài khoản để H2 tiếp tục đăng ký nhận tiền. Sau đó, H2 báo cho D biết tiền đã được chuyển vào tài khoản rất nhiều, D cũng thấy số dư trong tài khoản Payoneer rất nhiều tiền, nhưng không rõ bao nhiêu. D tiếp tục đến các trụ ATM và ngân hàng để rút được khoảng 1.000.000.000 đồng, tương đương khoảng 60.000 AUD, thì các tài khoản đã bị khóa. D báo cho H2 biết, thì H2 cho D biết các tài khoản Payoneer đã bị phía Chính phủ Úc phát hiện và phong tỏa.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H xác minh có 05 tài khoản Payoneer do D tạo ra đã nhận tiền của Chính phủ Úc, cụ thể: Tài khoản payoneer tên “Binh Dong D2”, nhận 01 lần số tiền 9.269,5 AUD; Tài khoản payoneer tên “Thanh Giau Nguyen”, nhận 10 lần, với tổng số tiền là 31.572,11 AUD; Tài khoản payoneer tên “Van Cuong Tran”, nhận 03 lần, với tổng số tiền là 15.886,34 AUD;Tài khoản payoneer tên “V”, nhận 01 lần, với số tiền là 9.995,15 AUD;Tài khoản payoneer tên “Manh Hoang Tran”, nhận 05 lần, với tổng số tiền là 21.914,85 AUD.

Tổng cộng số tiền, D chiếm đoạt là 88.637,95 đô la Úc tương đương 1.360.522.000 đồng (tại thời điểm tháng 5/2020, tỷ giá đô la Úc với tiền Việt Nam là 01 đô la Úc tương đương 15.349 đồng).

Tại bản Cáo trạng số 568/CT-VKS-P2 ngày 27/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Trung D về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Trung D 07 (bảy) năm tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2022.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 02 tháng 5 năm 2024 bị cáo Phạm Trung D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, lý do mức án 07 năm tù là quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét gia đình bị cáo có truyền thống cách mạng, ông nội tham gia kháng chiến chống Pháp, bác ruột là liệt sỹ, bố tham gia kháng chiến chống Mỹ. Bản thân bị cáo là lao động chính, nuôi 02 con nhỏ. Thời gian chống dịch Covid bị cáo cũng đã quyên góp ủng hộ được Ủy ban nhân dân xã P viết thư cảm ơn. Bị cáo là học sinh giỏi nhiều năm tại trường chuyên Hà Nội - Amsterdam. Bị cáo không phải là người khởi xướng mà chỉ làm theo đề nghị của Lê Quang H2, với vai trò đồng phạm giúp sức; trong quá trình điều tra, bị cáo tích cực hợp tác khai ra đối tượng H2; tình tiết phạm tội lần đầu, không tiền án tiền sự chưa được Tòa sơ thẩm xem xét; phía bị hại không yêu cầu trả lại tiền nhưng gia đình bị cáo nộp lại số tiền 1,4 tỷ đồng để sung công quỹ Nhà nước. Nên đề nghị giảm hình phạt để bị cáo sớm quay về cống hiến cho xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về xử lý vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tội danh như Tòa cấp sơ thẩm đã xét xử, thể hiện: Từ ngày 23/4/2020 đến ngày 10/5/2020, bị cáo Phạm Trung D đã dùng thông tin về công dân Úc do Lê Quang H2 cung cấp để tạo lập các tài khoản giả mạo của các công dân Ú nhằm hưởng chính sách “Tạm cấp sớm tiền hưu trí” do Chính phủ Úc cấp; tổng cộng 05 tài khoản tại cổng thanh toán quốc tế Payoneer liên kết với tài khoản của D tại Ngân hàng TMCP S1 đã nhận được số tiền 88.673,95 đô la Úc tương đương 1.360.522.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo Phạm Trung D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 290 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tuy nhiên, quyết định bản án không tuyên bố về tội danh đối với bị cáo là thiếu sót, cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Cấp phúc thẩm tuyên lại cho đúng.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Trung D, thấy rằng:

Tội phạm bị cáo thực hiện là dạng tội phạm mới, sử dụng công nghệ để chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, cơ quan, tổ chức thông qua việc sử dụng công cụ là mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm hại trật tự an toàn công cộng. Do đó cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tính ngăn ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm cùng Lê Quang H2; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nộp lại toàn bộ số tiền được chính phủ Úc chi trả tương đương 1.400.000.000 đồng để khắc phục hậu quả (do Chính phủ Ú không yêu cầu nên tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước). Gia đình bị cáo có nhiều người thân cống hiến cho sự nghiệp cách mạng (ông nội tham gia kháng chiến chống Pháp, bác ruột là liệt sỹ); có nhiều đóng góp, giúp đỡ địa phương trong đại dịch Covid 19; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự, hiện tại có 02 con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà N.

[3]. Từ những phân tích nhận định trên, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Quan điểm của Luật sư là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Trung D không phải chịu.

[5]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Trung D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản".
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Phạm Trung D 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2022.

  3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

    Bị cáo D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam TP. Hồ Chí Minh;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 17bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Văn Kết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 826/2024/HS-PT ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 826/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger