|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 826/2024/DS-ST Ngày: 06 - 9 - 2024 V/v: “T/c Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Thành Viên
bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: bà Đinh Hương Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 746/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024; về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 426/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 373/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D; chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1)
Đại diện theo pháp luật của công ty: ông Lê Ngọc T; chức vụ: Tổng giám đốc
Là người đại diện theo pháp luật của Công ty S1 theo giấy phép chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0302847233, đăng ký thay đổi lần thứ 27 ngày 12/10/2022.
Đại diện Ngân hàng TMCP S theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 về việc khởi kiện các hồ sơ liên quan đến Thẻ tín dụng và Tín dụng tiêu dùng; địa chỉ nhận thông báo: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty S1: ông Nguyễn Vũ Khánh C; chức vụ: Phó Tổng Giám đốc; (Giấy ủy quyền số: 775/2023/GUQ-TGĐ ngày 13/9/2023); ông Trần Đức T1, sinh năm 1984; chức vụ: Nhân viên Công ty S1 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: ông Lê Anh T2, sinh năm 1977; địa chỉ: 4 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22 tháng 4 năm 2024, bản tự khai, các lần làm việc tại Tòa án và các bản sao kê, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S do ông Lê Ngọc T và ông Trần Đức T1 là đại diện theo ủy quyền trình bày: ngày 25 tháng 5 năm 2022, ông Lê Anh T2 có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông T2, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum Cashback với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng. Đến ngày 01 tháng 6 năm 2022, ông T2 thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng Sacombank Pay với số tiền giải ngân là 22.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Đối với Thẻ tín dụng V 436438 – 0008 giải ngân qua tài khoản số: 3684704467, sau khi được cấp tín dụng ông T2 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 38.642.500 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ đến nay, ông T2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 8.207.185 đồng. Sau thời gian sử dụng ông T2 không có thiện chí trả nợ. Do ông T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 06 tháng 4 năm 2023 Ngân hàng đã chấm dứt sử dụng thẻ của ông T2, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 11 tháng 3 năm 2024, Thẻ tín dụng V số 436438 – 0008 của ông T2 còn nợ tổng số tiền 19.075.039 đồng (mười chín triệu không trăm bảy mươi lăm ngàn không trăm ba mươi chín đồng), trong đó dư nợ gốc là 13.403.186 đồng, lãi quá hạn là 5.671.853 đồng; (lãi suất trong hạn là 2,48 %/tháng, lãi suất quá hạn là 3,72 %/tháng).
Đối với khoản vay tiêu dùng S2 giải ngân qua số tài khoản số: 3910078231: Từ ngày giải ngân số tiền 22.000.000 đồng đến nay, ông T2 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.181.114 đồng. Qua nhiều lần làm việc nhưng ông T2 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 26 tháng 3 năm 2023 Ngân hàng đã chấm dứt và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 11 tháng 3 năm 2024, khoản vay S2 Pay 3910078231 của ông T2 còn nợ tổng số tiền 21.992.518 đồng (hai mươi mốt triệu chín trăm chín mươi hai ngàn năm trăm mười tám đồng), trong đó nợ gốc là 17.278.886 đồng, lãi quá hạn là 4.713.632 đồng; (lãi suất trong hạn là 1,55 %/tháng, lãi suất quá hạn là 2,325 %/tháng). Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông T2 có trách nhiệm thanh toán nhưng ông T2 vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng và vi phạm các điều khoản và điều kiện đã quy định trong hợp đồng.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp nên Ngân hàng đề nghị hội đồng xét xử giải quyết những vấn đề sau: Buộc ông Lê Anh T2 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 06 tháng 9 năm 2024 là 46.441.850 đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 30.682.072 đồng, lãi quá hạn là 15.759.778 đồng. Buộc ông Lê Anh T2 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07 tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ ông T2 đến Tòa án tham gia tố tụng, nhưng ông T2 không đến, nên Tòa án không ghi được lời khai của ông T2.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Viện kiểm sát không có kiến nghị về thủ tục tố tụng.
Về nội dung: Ngân hàng TMCP S đã ký kết Hợp đồng tín dụng với ông Lê Anh T2 theo như nội dung vụ án đã trình bày, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: ông Lê Anh T2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc và lãi suất phát sinh theo thỏa thuận trong Hợp đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 25 tháng 5 năm 2022 ông Lê Anh T2 có ký Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng). Do đó, có cơ sở xác định giữa ông T2 và Ngân hàng có giao kết hợp đồng dân sự vay tài sản như quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015. Do ông T2 không trả tiền vay nên Ngân hàng khởi kiện; quan hệ tranh chấp này là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T2 có nơi cư trú cuối cùng tại quận G, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, triệu tập ông T2 tới Tòa án để giải quyết vụ án. Do ông T2 không tới Tòa theo triệu tập của Tòa án, nên Tòa án không ghi được lời khai của ông T2 và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng ông T2 không tới tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T2.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu của Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc ông T2 phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 06 tháng 9 năm 2024 là 46.441.850 đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 30.682.072 đồng, lãi quá hạn là 15.759.778 đồng.
Buộc ông Lê Anh T2 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 07 tháng 9 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, xét thời điểm giao kết và thực hiện hợp đồng, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng; việc thành lập, tổ chức, .. thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do vậy, đối với hợp đồng vay tài sản mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng được thực hiện theo thỏa thuận; Hội đồng xét xử xét lãi suất của Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết phù hợp với quy định của pháp luật, nhận thấy yêu cầu của Ngân hàng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thống nhất:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông T2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ tính đến ngày 06 tháng 9 năm 2024 là 46.441.850 đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 30.682.072 đồng, lãi quá hạn là 15.759.778 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 07 tháng 9 năm 2024, ông T2 còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền còn nợ theo Hợp đồng tại thời điểm thanh toán cho đến khi thanh toán hết nợ.
[Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Lê Anh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.322.093 đ (hai triệu ba trăm hai mươi hai ngàn không trăm chín mươi ba đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại số tiền 1.026.689 đ (một triệu không trăm hai mươi sáu ngàn sáu trăm tám mươi chín đồng) cho Ngân hàng TMCP S mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0013662 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 150, Điều 203, Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự số năm 2015.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 và Áp dụng pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc ông Lê Anh T2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng toàn bộ số nợ tính đến ngày 06 tháng 9 năm 2024 là 46.441.850 đồng (bốn mươi sáu triệu bốn trăm bốn mươi mốt ngàn tám trăm năm mươi đồng), trong đó nợ gốc là 30.682.072 đồng, lãi quá hạn là 15.759.778 đồng, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 07 tháng 9 năm 2024, ông T2 còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh tương ứng với số tiền còn nợ tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng TMCP S cho đến khi thanh toán hết nợ.
Án phí dân sự sơ thẩm: ông Lê Anh T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.322.093 đ (hai triệu ba trăm hai mươi hai ngàn không trăm chín mươi ba đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn lại số tiền 1.026.689 đ (một triệu không trăm hai mươi sáu ngàn sáu trăm tám mươi chín đồng) cho Ngân hàng TMCP S mà nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số: 0013662 ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên, đóng dấu) Hoàng Thế Viễn |
Bản án số 826/2024/DS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 826/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng S khởi kiện ông T do vi phạm hợp đồng tín dụng.
