Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 826/2024/DS-PT

Ngày: 24 -9 - 2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và

hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trí Tuấn

Các thẩm phán: Ông Vũ Ngọc Huynh

Ông Nguyễn Văn Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 503/2024/TLPT – DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS –ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1083/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1966

Địa chỉ: số F, đường D, khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt – vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Triệu Hoàng Minh V,

Địa chỉ: số A, đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: ông Triệu Hoàng Kim N, sinh năm 1995.

Địa chỉ: I đường V, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên:

  1. Ông Lâm Thanh P, địa chỉ: số A, đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).

    Đại diện hợp pháp theo ủy quyền: ông Triệu Hoàng Kim N, sinh năm 1995.

    Địa chỉ: I đường V, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

  2. Em Lâm Triệu T2, sinh năm 2010, địa chỉ: số A, đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  3. Em Lâm Triệu Đ, sinh năm 2013, địa chỉ: số A, đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  4. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S, địa chỉ: số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

    Người đại diện theo ủy quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S: Ông Nguyễn Văn Đ1 - Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S, địa chỉ: Số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

  5. Ngân hàng N2, địa chỉ: số B, đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N2: Bà Trần Thị Thanh T3, Phó Giám đốc phụ trách Ngân hàng N2 - Chi nhánh S - Phòng G, địa chỉ: số A, P, khóm A, phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt).

  6. Ngân hàng thương mại cổ phần V2, địa chỉ: số D, đường T, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
  7. Ông Võ Minh X, địa chỉ: số F, đường D, khóm H, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng thửa đất số 970 (thửa mới 220), tờ bản đồ số 08 (tờ bản đồ mới số 56), diện tích 50m² (kích thước ngang 5m x dài 10m), tọa lạc tại số A, đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 123405 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cấp cho hộ Lê Văn P1 ngày 25/3/1999 (chuyển nhượng lại cho hộ Phạm Thị T1 vào tháng 02/2003). Khi nhận chuyển nhượng thì trên phần đất này đã có căn nhà cấp 4 của ông P1 và giữa căn nhà này và nhà của bà Triệu Hoàng Minh V có phần đất trống nhưng không thuộc quyền sử dụng của ai.

Bà T1 cho rằng có quyền sử dụng phần đất có diện tích thực tế là 75,8m² theo Sơ đồ hiện trạng đất tranh chấp của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố S, trong đó gồm 50m² nhận chuyển nhượng từ ông P1 nêu trên, còn phần đất phía trước và giáp đường T có diện tích 25,8m² do Nhà nước không thu hồi nên bà T1 sử dụng cất nhà, diện tích đất này bà T1 chưa đóng thuế nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi xây dựng nhà, bà T1 chỉ xây dựng kích thước 4,4m x 10m, còn lại 0,6m x 10m phía giáp đường đất (nay là hẻm A, đường T) thì chưa xây dựng. Khi Ủy ban nhân dân Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng nâng cấp, mở rộng hẻm 144 thì đã lấy hết phần đất 0,6m x 10m mà bà T1 chưa xây dựng này.

Do bà Triệu Hoàng Minh V không cho bà Phạm Thị T1 xây dựng trên phần diện tích đất trống giữa hai căn nhà nên bà T1 yêu cầu Toà án giải quyết:

  1. Buộc bà Triệu Hoàng Minh V trả lại cho bà Phạm Thị T1 phần đất có tổng diện tích 11,9m² thuộc thửa đất số 970 (thửa mới 220), tờ bản đồ số 08 (tờ bản đồ mới số 56) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 123405 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cấp cho hộ Lê Văn P1 ngày 25/3/1999 (chuyển nhượng lại cho hộ Phạm Thị T1 vào tháng 02/2003), đất có vị trí như sau:
    • + Hướng Bắc: giáp thửa đất số 970 của bà Phạm Thị T1 có số đo 10m + 6,52m + 1,0m = 17,52m.
    • + Hướng N1: giáp thửa đất số 291 của bà Triệu Hoàng Minh V có số đo 10m + 7,44m = 17,44m.
    • + Hướng Tây: có số đo 0,21m + 0,38m = 0,59m.
    • + Hướng Đ2: giáp hành lang lộ giới đường T có số đo 0,95m.
  2. Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 412426 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 30/10/2017 cho bà Triệu Hoàng Minh V và ông Lâm Thanh P đối với thửa số 291, tờ bản đồ số 56, diện tích 95,4m², tọa lạc tại đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tương ứng với diện tích 11,9m² đất nêu trên.

- Bà Triệu Hoàng Minh V trình bày tại các văn bản ngày 24/5/2020, ngày 17/5/2022 và tại phiên tòa:

Bà Triệu Hoàng Minh V không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T1 vì bà V cho rằng phần đất đang sử dụng còn thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI412426 ngày 30/10/2017. Do hai bên đều thiếu đất nên bà V đề nghị mỗi bên được sử dụng ½ phần đất trống tranh chấp giữa hai căn nhà.

- Theo trình bày của ông Võ Minh X tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/3/2024: Ông Võ Minh X thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bà Phạm Thị T1.

- Theo trình bày của Ngân hàng N2 tại văn bản ngày 20/6/2022: Bà Phạm Thị T1 đã tất toán khoản vay liên quan đến tài sản đang tranh chấp trong vụ án.

- Theo trình bày của Ngân hàng thương mại cổ phần V2 tại văn bản ngày 29/5/2023: Bà Triệu Hoàng Minh V và ông Lâm Thanh P đã tất toán khoản vay và Ngân hàng thương mại cổ phần V2 đã trả lại tài sản thế chấp cho bà V, ông P.

Ông Lâm Thanh P, em Lâm Triệu T2, em Lâm Triệu Đ, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các đương sự này không có ý kiến gì trong quá trình giải quyết vụ án.

- Theo trình bày của ông Lê Văn P1 tại văn bản ngày 30/8/2022:

Thửa đất số 970 (thửa mới 220), tờ bản đồ số 08 (tờ bản đồ mới số 56) tọa lạc tại đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng được ông Lê Văn P1 nhận chuyển nhượng vào ngày 30/9/1997 từ vợ chồng ông Lâm Việt H, bà Nguyễn Thị H1. Khi chuyển nhượng, hai bên thỏa thuận diện tích là 50m² (5m x dài 10m) và tiếp giáp đường đất (nay là hẻm A, đường T). Thửa đất này sau đó được ông P1 chuyển nhượng hết cho bà Phạm Thị T1. Đến sau năm 2003, khi Nhà nước mở rộng, nâng cấp hẻm A đường T thì ảnh hưởng đến phần đất của bà T1 với kích thước ngang khoảng 1m, dài khoảng hơn 10m.

Còn thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56 tọa lạc tại khóm B, Phường B, thành phố S cũng được ông P1 nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lâm Việt H, bà Nguyễn Thị H1 vào khoảng năm 1998. Cùng năm 1998, ông P1 xây dựng căn nhà trên đất và đến ngày 07/10/2017, ông P1 chuyển nhượng lại toàn bộ nhà, đất cho bà Triệu Hoàng Minh V và ông Lâm Thành P2. Còn căn nhà của bà Phạm Thị T1 đã được xây dựng trước năm 2017; khi chuyển nhượng cho bà V, ông P2 thì ông P1 có nói với bà V là giữa hai thửa đất có lối đi chung không thuộc quyền sử dụng của ai.

- Theo trình bày của ông Lâm Việt H tại phiên toà sơ thẩm:

Thửa đất số 970 và số 291, tờ bản đồ số 56 có nguồn gốc của vợ chồng ông Lâm Việt H, bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng lại cho ông Lê Văn P1. Ông H không rõ việc tranh chấp giữa bà Phạm Thị T1 và bà Triệu Hoàng Minh V.

- Theo trình bày của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S tại văn bản số 325/CV-CNTPST ngày 28/4/2023:

Thửa đất số 220, tờ bản đồ 56, diện tích 50m², tọa lạc tại Khóm B, Phường B, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 123405 cấp ngày 25/3/1999 của ông Lê Văn P1 đã chuyển nhượng cho bà Phạm Thị T1 vào tháng 2/2003 đang thế chấp tại Ngân hàng N2 - Phòng Giao dịch thành phố S. Còn thửa đất số 291, tờ bản đồ 56, diện tích 95,4m², tọa lạc tại Khóm B, Phường B, thành phố S theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 412426 cấp ngày 31/10/2017 của ông Lâm Thanh P, bà Triệu Hoàng Minh V đang thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần V2 Chi nhánh S.

- Theo ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố S tại văn bản số 1488/UBND-HC ngày 16/8/2023:

Công trình nâng cấp, mở rộng hẻm A đường T, Phường B, thành phố S do Ủy ban nhân dân Phường B vận động nhân dân thực hiện.

Phần đất tranh chấp có tổng diện tích 11,9m² (gồm 6,0m² loại đất theo Giấy chứng nhận và 5,9m² loại đất theo hiện trạng) có 0,5m² nằm trong diện tích đất lộ giới, còn lại 11,4m² nằm ngoài hành lang lộ giới. Trường hợp phần đất này được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định pháp luật.

Tòa án đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ sau:

  • + Xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc tài sản tranh chấp;
  • + Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc xác định nguồn gốc tài sản tranh chấp.

Vụ án phát sinh, địa phương và Tòa án hòa giải không thành nên đưa ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 32/2024/DS –ST ngày 10 – 5 – 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 104, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Khoản 29 Điều 3, điểm d khoản 1 Điều 99, khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; điểm c khoản 4 Điều 56 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 164, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T1:
    1. Bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 6,9m² (có 0,3m² nằm trong hành lang lộ giới) và có vị trí như sau:
      • - Hướng Đông giáp vỉa hè đường T, có số đo 0,60m.
      • - Hướng Tây giáp đất bà Lâm Thị Hồng D, có số đo 0,19m.
      • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 220 của bà Phạm Thị T1, có số đo 17,52m.
      • - Hướng Nam giáp phần đất tranh chấp còn lại bà Triệu Hoàng Minh V được quyền sử dụng, có số đo 17,47m.
    2. Bà Triệu Hoàng Minh V được quyền sử dụng phần đất có diện tích 5,0m² (có 0,2m² nằm trong hành lang lộ giới) và có vị trí như sau:
      • - Hướng Đông giáp vỉa hè đường T, có số đo 0,35m.
      • - Hướng Tây giáp đất bà Lâm Thị Hồng D, có số đo 0,19m.
      • - Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng, có số đo 17,47m.
      • - Hướng Nam giáp thửa đất số 291 của bà Triệu Hoàng Minh V, có số đo 17,45m.

      (Kèm theo Sơ đồ)

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T1 về việc hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 412426 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 30/10/2017 cho bà Triệu Hoàng Minh V và ông Lâm Thanh P đối với phần đất có diện tích 11,9m² thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56, diện tích 95,4m², tọa lạc tại khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Bà Phạm Thị T1 có trách nhiệm thanh toán cho bà Triệu Hoàng Minh V giá trị nền xi măng có diện tích 6,9m² với số tiền là 826.413 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và các chi phí khác và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, bà Phạm Thị T1 nộp đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm áp dụng Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm như sau:

  1. Buộc bị đơn trả cho bà diện tích 5,0 m² mà án sơ thẩm tuyên cho bị đơn được quyền sử dụng. Vì diện tích này nằm trong thửa 970 (thửa mới 220), tờ bản đồ số 8 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Lê Văn P1 này 25/3/1999, diện tích 50 m² (5 m x 10 m).
  2. Bản án buộc bà thanh toán lại cho bị đơn phần giá trị của diện tích 6,9 m² nền xi măng với số tiền 826.413 đồng (6,9 m² x 119,770 đồng/m²) là không có cơ sở.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Triệu Hoàng Kim N đại diện ủy quyền của bà V, ông P không đồng ý yêu cầu trả cho bà T1 5 m² đất theo án sơ thẩm, đồng ý không yêu cầu bà T1 trả tiền giá trị nền xi măng theo kháng cáo của bà T1.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện ủy quyền của vợ chồng ông P, bà V tự nguyện không yêu cầu bà T1 hoàn trả tiền giá trị 6,9 m² nền xi măng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với kháng cáo về việc buộc bị đơn phải trả lại 05 m² diện tích đất bà V đang sử dụng, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị T1 trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
    2. Bà T1 có đơn xin xét đề nghị giải quyết vắng mặt, vợ chồng bà V, ông P vắng mặt có người đại diện theo ủy quyền nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Xét nội dung kháng cáo của bà Phạm Thị T1.
    1. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại đất lấn chiếm và hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp. Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
    2. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S xác định thửa đất số 970 (thửa mới 220), tờ bản đồ số 08 (tờ bản đồ mới số 56), diện tích 50m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 123405 do Ủy ban nhân dân tỉnh S cấp cho hộ Lê Văn P1 ngày 25/3/1999 (chuyển nhượng lại cho hộ Phạm Thị T1 vào tháng 02/2003). Thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56, diện tích 95,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 412426 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Lâm Thanh P, bà Triệu Hoàng Minh V ngày 31/10/2017.
    3. Nguyên đơn cho rằng khi bà nhận chuyển nhượng thì trên phần đất này đã có căn nhà cấp 4 của ông P1, giữa căn nhà này và nhà bà V có phần đất trống không thuộc quyền sử dụng của ai. Từ đó nguyên đơn cho rằng có có quyền sử dụng phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 75,8 m² theo Sơ đồ hiện trạng của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đaithành phố S.

      Bà Triệu Minh Hoàn V1 không đồng ý yêu cầu này của bà T1, bà V1 cho rằng đất của bà còn thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 412426 ngày 30/10/2017.

    4. Tại phiên tòa sơ thẩm, các bên thống nhất thỏa thuận diện tích đất tranh chấp 11,9m² tổng trị giá 178.847.000 đồng, nền xi măng trị giá 119.770 đồng/m², một phần của căn nhà số A, đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng có diện tích 0,693m² (nằm trên diện tích đất 11,9m² tranh chấp) trị giá 2.675.527 đồng. Do đó cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định giá trị tài sản tranh chấp theo thoả thuận này để làm cơ sở giải quyết vụ án là phù hợp.
    5. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào:
      1. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/9/2020; Sơ đồ hiện trạng ngày 20/5/2021 và Công văn số 355/CV.CNTPST ngày 05/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S thì phần đất tranh chấp nêu trên liền kề nhau, nằm giữa căn nhà số A, đường T của bà T1 và căn nhà số A, đường T của bà V1, ông P có tổng diện tích 11,9m² (trong hành lang lộ giới 0,5m²) và vị trí như sau:
        • + Hướng Bắc giáp thửa đất số 970 của bà Phạm Thị T1 có số đo 10m + 6,52m + 1,0m = 17,52m.
        • + Hướng Nam giáp thửa đất số 291 của bà Triệu Hoàng Minh V có số đo 10m + 7,44m = 17,44m.
        • + Hướng Tây giáp đất bà Lâm Thị Hồng D: có số đo 0,21m + 0,38m = 0,59m.
        • + Hướng Đông giáp vỉa hè đường T có số đo 0,95m.

        Tài sản trên đất tranh chấp gồm một phần của căn nhà số A, đường T của bà V, ông P có diện tích 0,693m² (kết cấu nền gạch men, cột bê tông cốt thép, vách tường 10, đỡ mái sắt, mái tôn, trần thạch cao) và nền xi măng có diện tích 11,207m² (11,9m² - 0,693m²) do bà Triệu Hoàng Minh V xây dựng.

      2. Xét về nguồn gốc, hồ sơ vụ án thể hiện 02 thửa đất của 02 bên nằm trong diện tích đất 150m² do Nhà nước cấp cho ông Lâm Việt H, sau đó ông H chuyển nhượng lại cho ông Lê Văn P1, cụ thể như sau:
        1. Thửa đất số 970 (thửa đất mới số 220), tờ bản đồ số 08 (tờ bản đồ mới số 56), diện tích 50m², tọa lạc tại số A, đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là của hộ ông Lê Văn P1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 123405 ngày 25/3/1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh S. Vào ngày 20/12/2002, vợ chồng ông P1 chuyển nhượng hết thửa lại cho bà Phạm Thị T1. Đến tháng 02/2003, hộ bà Phạm Thị T1 được Phòng Địa chính - Nhà đất thị xã S xác nhận quyền sử dụng phần đất này; còn tài sản trên đất chưa đăng ký quyền sở hữu.
        2. Thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56, diện tích 95,4m², tọa lạc tại số A, đường T, khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là của vợ chồng ông Lê Văn P1 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 594120 do Ủy ban nhân dân thành phố S cấp ngày 16/11/2012. Ngày 07/10/2017, vợ chồng ông P1 chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất này và căn nhà gắn liền cho vợ chồng ông Lâm Thanh P và Triệu Hoàng Minh V. Đến ngày 31/10/2017 ông P, bà V được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 412426 đối với thửa đất này, nhưng chưa đăng ký quyền sở hữu căn nhà trên đất.
      3. Xét quá trình quản lý, sử dụng:
        1. Thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56, diện tích 95,4m² thể hiện trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận khi chuyển dịch từ ông P1 sang ông P, bà V là hoàn toàn không thay đổi về diện tích, kích thước và hình thể; cụ thể có các cạnh như sau:
          • + Hướng Bắc: giáp thửa đất số 239 và số 970, có số đo 4,96m + 0,49m + 0,44m + 0,35m + 11,40m + 0,59m.
          • + Hướng N1: giáp thửa đất số 155 có số đo 4,90m + 1,02m + 10,80m + 0,56m.
          • + Hướng Tây giáp thửa đất số 218 có số đo 5,59m.
          • + Hướng Đông giáp đường T có số đo 5,68m.
        2. Sơ đồ thửa đất số 970, tờ bản đồ số 08, diện tích 50m² thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 123405 cấp cho hộ Lê Văn P1 ngày 25/3/1999 có các cạnh như sau:
          • + Hướng Bắc giáp đường đất có số đo 10,0m.
          • + Hướng Nam có số đo 10,0m.
          • + Hướng Tây có số đo 5,0m.
          • + Hướng Đông giáp lộ giới đường T có số đo 5,0m.

          Khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng cho hộ Phạm Thị T1, hồ sơ kỹ thuật thể hiện phần đất trên có số thửa mới là 220, thuộc tờ bản đồ số 56 và diện tích, kích thước có thay đổi nhưng không đáng kể, cụ thể thửa đất này có diện tích là 50,1m² và kích thước các cạnh như sau:

          • + Hướng Bắc giáp hẻm A có số đo 10,02m.
          • + Hướng Nam giáp Lê Văn P1 có số đo 10,02m.
          • + Hướng Tây giáp Trần Thị L có số đo 5,01m.
          • + Hướng Đông giáp lộ giới đường T có số đo 5,01m.
        3. Theo Sơ đồ hiện trạng ngày 20/5/2021 và Công văn số 355/CV.CNTPST ngày 05/5/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S thể hiện:
          1. Thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56 có diện tích 90,0m² và kích thước các cạnh như sau:
            • + Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp có số đo 10m + 7,44m.
            • + Hướng Nam có số đo 16,7m + 0,6m.
            • + Hướng Tây có số đo 4,95m + 0,21m.
            • + Hướng Đông giáp vỉa hè đường T có số đo 5,33m.
          2. Thửa đất số 220, tờ bản đồ số 56 có diện tích 75,8m² (trong đó có 25,8m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và kích thước các cạnh như sau:
            • + Hướng Bắc giáp hẻm A có số đo 17,38m.
            • + Hướng Nam giáp giáp phần đất tranh chấp có số đo 10m + 6,52m + 1,0m.
            • + Hướng Tây có số đo 4,24m.
            • + Hướng Đông giáp vỉa hè đường T có số đo 4,46m.

          Như vậy, nếu không tính diện tích đất tranh chấp, thì phần đất mà mỗi bên đang quản lý, sử dụng đều có chiều ngang (ở hướng Tây và hướng Đông) thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

      4. Lời khai của chủ đất đã chuyển nhượng cho các đương sự ông Lê Văn P1: Nhà nước mở rộng, nâng cấp hẻm A đường T đã làm ảnh hưởng đến thửa đất số 970, tờ bản đồ số 08 của bà T1 với kích thước ngang khoảng 1m, dài khoảng hơn 10m. Còn căn nhà và thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56 được ông P1 chuyển nhượng lại toàn bộ cho bà Triệu Hoàng Minh V và ông Lâm Thành P2 vào ngày 07/10/2017; khi chuyển nhượng thì giữa căn nhà này và nhà bà T1 (được xây dựng trước đó) đã có phần đất trống không thuộc quyền sử dụng của bên nào. Tại phiên toà, bà T1 cũng thừa nhận từ khi nhận chuyển nhượng nhà, đất của ông P1 cho đến nay, bà V và ông P2 không cơi nới, sửa chữa hoặc làm thay đổi hiện trạng nhà đất này và khi nâng cấp, mở rộng hẻm A đường T đã lấy vào thửa đất số 970 phần đất có kích thước ngang 0,6m dài 10m mà bà T1 chưa xây dựng.
      5. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện 02 thửa đất trên giáp ranh nhau và không có phần đất trống như hiện trạng thực tế đang sử dụng. Theo ý kiến của Ủy ban nhân dân thành phố S thì diện tích đất tranh chấp 11,9m² (có 0,5m² nằm trong hành lang lộ giới) đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  3. Từ đó Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ghi nhận cho 02 bên được quyền sử dụng một phần diện tích đất tranh chấp theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 99, khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và điểm c khoản 4 Điều 56 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, cụ thể như sau:
    1. Phần đất bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng có diện tích 6,9m² (có 0,3m² nằm trong hành lang lộ giới) và có vị trí cụ thể như sau:
      • - Hướng Đông giáp vỉa hè đường T, có số đo 0,60m.
      • - Hướng Tây giáp đất bà Lâm Thị Hồng D, có số đo 0,19m.
      • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 220 của bà Phạm Thị T1, có số đo 17,52m.
      • - Hướng Nam giáp phần đất tranh chấp còn lại bà Triệu Hoàng Minh V được quyền sử dụng, có số đo 17,47m.
    2. Phần đất bà Triệu Hoàng Minh V được quyền sử dụng có diện tích 5,0m² (có 0,2m² nằm trong hành lang lộ giới) và có vị trí cụ thể như sau:
      • - Hướng Đông giáp vỉa hè đường T, có số đo 0,35m.
      • - Hướng Tây giáp đất bà Lâm Thị Hồng D, có số đo 0,19m.
      • - Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng, có số đo 17,47m.
      • - Hướng Nam giáp thửa đất số 291 của bà Triệu Hoàng Minh V, có số đo 17,45m.

      Là có căn cứ pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ chứng minh diện tích 5,0 m² của là của nguyên đơn nên bác kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu này.

  4. Tại phiên toà sơ thẩm, bà T1 thừa nhận tài sản trên đất tranh chấp là nền xi măng do bà V xây dựng, nên cấp sơ thẩm buộc bà T1 thanh toán lại cho bà V phần giá trị của diện tích 6,9m² với số tiền là 826.413 đồng (6,9m² x 119.770 đồng/m²) là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo ủy quyền của bà V, ông P2 tự nguyện không yêu cầu bà T1 trả khoản tiền này, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  5. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Thị T1.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bà T1 không phải nộp.
  7. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, khoản 6 Điều 313 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T1 yêu cầu được quyền sử dụng 5,0 m² mà bản án sơ thẩm đã giao cho bị đơn. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn không yêu cầu bà T1 thanh toán giá trị 6,9 m² nền xi măng cho bà V số tiền 826.413 đồng. Sửa bản án sơ thẩm số 32/2024/DS –ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

Căn cứ vào:

Khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 104, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Khoản 29 Điều 3, điểm d khoản 1 Điều 99, khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; điểm c khoản 4 Điều 56 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 164, khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T1:
    1. Bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng phần đất có diện tích 6,9m² (có 0,3m² nằm trong hành lang lộ giới) và có vị trí như sau:
      • - Hướng Đông giáp vỉa hè đường T, có số đo 0,60m.
      • - Hướng Tây giáp đất bà Lâm Thị Hồng D, có số đo 0,19m.
      • - Hướng Bắc giáp thửa đất số 220 của bà Phạm Thị T1, có số đo 17,52m.
      • - Hướng Nam giáp phần đất tranh chấp còn lại bà Triệu Hoàng Minh V được quyền sử dụng, có số đo 17,47m.
    2. Bà Triệu Hoàng Minh V được quyền sử dụng phần đất có diện tích 5,0m² (có 0,2m² nằm trong hành lang lộ giới) và có vị trí như sau:
      • - Hướng Đông giáp vỉa hè đường T, có số đo 0,35m.
      • - Hướng Tây giáp đất bà Lâm Thị Hồng D, có số đo 0,19m.
      • - Hướng Bắc giáp phần đất tranh chấp bà Phạm Thị T1 được quyền sử dụng, có số đo 17,47m.
      • - Hướng Nam giáp thửa đất số 291 của bà Triệu Hoàng Minh V, có số đo 17,45m.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T1 về việc hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 412426 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 30/10/2017 cho bà Triệu Hoàng Minh V và ông Lâm Thanh P đối với phần đất có diện tích 11,9m² thuộc thửa đất số 291, tờ bản đồ số 56, diện tích 95,4m², tọa lạc tại khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Về án phí và chi phí khác:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:

      Bà Phạm Thị T1 phải chịu 5.175.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền 2.291.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các Biên lai số 0001849 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án thành phố Sóc Trăng và số 0008383 ngày 09/5/2023 của Cục Thi hành án tỉnh Sóc Trăng; bà Phạm Thị T1 còn phải nộp thêm 2.884.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

      Bà Triệu Hoàng Minh V phải chịu 3.757.200 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    2. Án phí dân sự phúc thẩm bà T1 không phải nộp nên được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0002940 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
    3. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:

      Bà Phạm Thị T1, bà Triệu Hoàng Minh V mỗi người phải chịu số tiền là 575.000 đồng. Bà Triệu Hoàng Minh V có trách nhiệm hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T1 số tiền này do bà Phạm Thị T1 đã nộp tạm ứng toàn bộ các chi phí này.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Đương sự (9)
  • - Lưu VP(3), HS(2). 25b-TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Trí Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 826/2024/DS-PT ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 826/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Phạm Thị T kiện Bà Triệu Hoàng Minh V về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị T yêu cầu được quyền sử dụng 5,0 m2 mà bản án sơ thẩm đã giao cho bị đơn. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn không yêu cầu bà T thanh toán giá trị 6,9 m2 nền xi măng cho bà Vân số tiền 826.413 đồng. Sửa bản án sơ thẩm số 32/2024/DS –ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger