Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 825/2024/DS-PT

Ngày: 18-9-2024

V/v: tranh chấp hợp đồng dịch vụ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy

Các Thẩm phán:

1/ Bà Lê Thị Mỹ Nhung

2/ Ông Nguyễn Đình Đức

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm Sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 536/2024/DS-PT ngày 04 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4226/2024/QĐ-PT ngày 30/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13128/2024/QĐ-PT ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1954. Địa chỉ: Số C, đường Đ, phường K, quận Đ, thành phố N. Địa chỉ liên lạc: Số B M, phường T, Quận G, Thành phố H (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Ngọc T – Luật sư thuộc Văn phòng L. Địa chỉ: Số B, đường A, Phường A, Quận H, Thành phố H (có mặt)..

2. Bị đơn: Công ty TNHH R1.

2

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà A, số A, đường T, phường T, Quận A, Thành phố H.

Người đại diện theo ủy của bị đơn: Ông Đặng Văn P, sinh năm 1992. Địa chỉ liên hệ: Số I, đường H, phường T, thành phố T, Thành phố H (giấy ủy quyền số 0206/2023/GUQ-RI ngày 19/6/2023) (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Tuấn D, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số G, đường số B, phường T, thành phố T, Thành phố H (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy của bà D: Ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1954. Địa chỉ liên lạc: Số B M, phường T, Quận G, Thành phố H (giấy ủy quyền số công chứng 006762 quyển số 03/2023/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 04/7/2023 của Văn phòng C lập) (có mặt).

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trình bày của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H:

Công ty TNHH R1 (gọi tắt là Công ty R2) lừa dối, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tin không đầy đủ, sai lệch, không chính xác trái Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

Ngày 22/7/2022, ông H và bà Dương Tuấn D đặt chỗ 20 triệu đồng theo Thỏa thuận đặt mua và sau đó ký Hợp đồng kỳ nghỉ gia đình số RI-1806-009181 với Công ty R2. Ông H đã ký Hợp đồng trong điều kiện không được đọc kỹ về những điều khoản liên quan đến quyền lợi khách hàng vì Hợp đồng đã được in sẵn, ngoài ra ông Quốc D1 - Quản lý kinh doanh của Công ty R2 nói rằng Hợp đồng chỉ mang tính hình thức, còn nội dung thì đã được trình bày rõ ở trên đây.

Thời hạn dịch vụ nghỉ dưỡng theo hợp đồng là 12 năm từ ngày ký. Quyền nghỉ dưỡng hàng năm hạng Diamond U với căn hộ 01 phòng ngủ được lưu trú tối đa 04 người trong thời gian 08 ngày 07 đêm được lựa chọn:

  1. hoặc 01 quyền DEV (hệ thống của RIVN tại Việt Nam);
  2. hoặc 01 quyền Home Resorts (Hệ thống trực tiếp thuộc Công ty R2 và công ty M);
  3. hoặc 05 quyền trao đổi Exchange có phí (hệ thống Công ty R2 thực hiện trao đổi tại Việt Nam và quốc tế).

Giá trị hợp đồng 141.000.000 đồng.

Tổng cộng phí nghỉ dưỡng ông H đã trả cho Công ty R2 là 20.000.000 đồng + 63.200.000 đồng + 50.000.000 đồng = 133.200.000 đồng.

3

Điều vô lý là Công ty R2 “tự cho” quyền sở hữu đối với phí nghỉ dưỡng đã thanh toán mà chưa cung cấp sản phẩm nghỉ dưỡng tại Điều 4.1 hợp đồng.

Ngày 22/7/2022, tại thời điểm ký hợp đồng thì ông Đỗ Lê K không phải là đại diện theo pháp luật cũng không phải là Giám đốc Công ty R2 để ký.

Khi ký hợp đồng mua kỳ nghỉ chưa hề có trao đổi gì về phương thức hay quy trình đặt phòng như thế nào, chỉ có câu hỏi về phí trao đổi từ 50 đô la Mỹ thì được bổ sung đến 250 đô la Mỹ nhưng cũng không rõ cấu thành phí này là gì và tại sao khi ông H là khách hàng đã trả phí nghỉ dưỡng cho RIVN theo hợp đồng.

Thương hiệu Resorts International RI tại Mỹ thời Donald Trump điều hành năm 1986 - 1988 và không còn đăng ký từ 04/11/1992. Do đó, thông tin RIVN thuộc hay có quan hệ mẹ con với RI là lừa dối. C1 không sở hữu hay đồng sở hữu bất cứ cơ sở nghỉ dưỡng là hệ thống HOME RESORT nào trực tiếp thuộc Công ty R2. Danh sách 10 khu HR mà RIVN cấp sau khi ký hợp đồng là không đúng và cố ý dùng làm thủ đoạn gian dối để lừa người mua kỳ nghỉ nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật này và giao tài sản cho Công ty R2 - người phạm tội nhằm chiếm đoạt tài sản.

Điều kiện thực hiện quyền nghỉ dưỡng theo hợp đồng của Công ty R2 không minh bạch, trái thông lệ thực tiễn và áp đặt bất lợi cho khách hàng - người tiêu dùng:

Phí nghỉ dưỡng - giá trị hợp đồng không công khai minh bạch trong sử dụng kỳ nghỉ nên người tiêu dùng không thể tự quyết và chủ động lựa chọn đặt phòng tại nơi và thời gian nghỉ mà hoàn toàn phụ thuộc vào “mức lợi nhuận/sinh lời” mà C1 chấp nhận hay không.

Đối với H1 resort - HR theo danh sách 10 khu (phải hỏi mới đưa sau khi ký hợp đồng) 06 tại Hoa Kỳ, 01 tại A, 01 tại Tây Ban Nha, 01 tại Mexico và 01 tại B (C). Vấn đề cần phải làm rõ quan hệ hoặc nguồn lực của RIVN như thế nào với các khu nghỉ Home Resorts này.

Đặt phòng HR trong hệ thống trực tiếp thuộc Công ty R2 ở nước ngoài được 01 quyền không phải trả thêm tiền nhưng người tiêu dùng lại rất khó chủ động vì không vào được Website của HR hoặc không phải là các khu nghỉ dưỡng 4 - 5 sao như đăng trên Website của Công ty R2. Phải chăng có điều tiềm ẩn người tiêu dùng bị Công ty R2 hạn chế đi nghỉ ở nước ngoài do giá cao hơn phí đã trả hay giá thấp, đảm bảo lợi cho Công ty R2.

Việc đặt phòng theo Công ty R2 đã lộ ra rất nhiều phiền toái và sự thiếu minh bạch trong sử dụng phí kỳ nghỉ mà ông H là người tiêu dùng đã bỏ tiền ra mua. Đơn cử cụ thể:

4

Ngày 29/7/2022, ông H đã đặt kỳ nghỉ cho 02 người lớn tại Singapore qua quyền Exchange có phí trao đổi, thời gian yêu cầu 01 tuần 07 đêm từ ngày 16 đến ngày 23/8/2022 nhưng không được.

Sáng ngày 01/8/2022 ông H đã gửi email xác nhận yêu cầu đặt phòng tại N: Thời gian: 04 đêm từ ngày 18 đến ngày 22/8/2022, số khách: 02 người lớn số phòng: 01 phòng. Chiều ngày 03/8/2022 nhận được thông tin chuyến đi theo quyền trao đổi năm 2022 tại M, H, N với phí trao đổi: 110 đô la Mỹ = 2,53 triệu đồng.

Do không phù hợp về vị trí, không trong hệ thống trao đổi như giới thiệu và giá thuê phòng khách sạn tại phố cổ rẻ hơn nhiều so với phí trao đổi. Công ty RIVN cuối giờ chiều ngày 05/8/2022 đưa thêm 03 phương án theo các điều kiện phí và giá thuê khác nhau. Theo đó, số tiền được giảm theo quyền kỳ nghỉ chỉ là 3,069 triệu đồng, trong khi là khách hàng ông H đã trả 22,017 triệu đồng/năm (phí nghỉ dưỡng 204,2 triệu đồng/12 năm + phí thường niên 05 triệu đồng.)

Các hành vi nêu trên vi phạm điểm d, đ khoản 1 và khoản 5 Điều 47 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ về quy định xử phạt hành chính trong hoạt động thương mại... và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Như vậy, những viện dẫn trên chứng minh rõ ràng nếu “biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác; Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên” là khách hàng (Điều 420 Bộ luật Dân sự 2015: Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản). Đây là 02 điều kiện thể hiện ý thức chiếm đoạt mà Công ty R2 đang gian dối, lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của ông H là người tiêu dùng theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.

Công ty R2 làm ngơ yêu cầu rà soát các điều khoản hợp đồng, phụ lục hợp đồng, điều kiện giao dịch chung phù hợp với quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng:

Ngày 05/12/2022, theo đơn khiếu nại Sở Công thương ngày 19/8/2022, Cục Cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng (VCCA), Bộ C2 tại Biên bản làm việc đã yêu cầu Công ty R2:

  1. Báo cáo giải trình về các nội dung tại Mục IV.3.3 (công khai minh bạch quy trình đặt phòng và phí trao đổi) và IV.3.4 (công khai minh bạch điều kiện sử dụng giá trị hợp đồng: tiền đặt cọc, phí nghỉ dưỡng, phí trao đổi và phí thường niên cao hơn nhiều so với khách hàng tự đặt trực tiếp);
  2. Xem xét lại việc giải thích hợp đồng với người tiêu dùng để có sự thống nhất về các quy định được cho rằng bất hợp lý, vi phạm pháp luật như nêu trong đơn thư,

5

  1. Rà soát các điều khoản hợp đồng, phụ lục hợp đồng, điều kiện giao dịch chung phù hợp với quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Mặc dù vậy, Công ty R2 cho đến nay không làm bất cứ cam kết nào hay yêu cầu của VCCA. Người đại diện theo ủy quyền của Công ty R2 – ông Đặng Văn P - nhân viên pháp chế chỉ hứa, không thực hiện.

Vì lẽ trên, căn cứ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết những hành vi bị cấm và trách nhiệm của Công ty R2 đã vi phạm tại Điều 10, 12 hay các điều khoản của hợp đồng giao kết với người tiêu dùng, điều kiện giao dịch chung không có hiệu lực theo Điều 16 và 17 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể:

1. Tuyên hủy Hợp đồng số RI-1806-009181 ngày 22/7/2022 ký giữa Công ty R2 với ông Nguyễn Hữu H và bà Dương Tuấn D vì có nhiều điều khoản vi phạm quyền lợi người tiêu dùng được luật pháp qui định. Các điều khoản của hợp đồng về phí thanh toán sẽ ngừng thực hiện trong thời gian giải quyết tranh chấp.

2. Buộc Công ty R2 phải trả lại cho ông H, bà D khoản tiền đặt cọc, đã đóng và đã thu mua là 133.200.000 đồng.

Bị đơn Công ty R1 có người đại diện ông Đặng Văn P trình bày:

Ngày 22/7/ 2022, ông Nguyễn Hữu H – bà Dương Tuấn D và Công ty R2 đã ký một thỏa thuận đặt mua với số tiền: 20.000.000 VNĐ (Bằng chữ: Hai mươi triệu đồng). Trước khi ký kết Thỏa thuận đặt mua, Công ty R2 đã cung cấp toàn bộ các giấy tờ pháp lý có liên quan đến hoạt động kinh doanh nghỉ dưỡng của Công ty bao gồm: lịch sử hình thành và phát triển của Công ty R2, đối tác liên kết, khách sạn nghỉ dưỡng, chương trình nghỉ dưỡng, chính sách ưu đãi

Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI 1806 – 009181 được ký giữa Công ty R2 với ông Nguyễn Hữu H – bà Dương Tuấn D vào ngày 22/07/2022 là một Hợp đồng mẫu cung cấp dịch vụ thông thường không phân biệt khách hàng. Tại đây, các điều khoản được quy định rõ ràng, minh bạch, khách hàng được toàn quyền đọc, hiểu và ký nháy trên từng trang Hợp đồng. Đối với các điều khoản khách hàng chưa rõ, chưa hiểu, hoặc hai bên chưa thống nhất, các bên có quyền thương lượng, thỏa thuận để đạt được sự thống nhất sau đó tiến hành ký kết Hợp đồng. Ngoài ra, khách hàng được quyền từ chối đặt cọc và ký kết Hợp đồng nếu nhận thấy sản phẩm, dịch vụ không phù hợp với mình. Đối với Hợp đồng trên, ông Nguyễn Hữu H – bà Dương Tuấn D ký kết Hợp đồng mà không có bất kỳ thắc mắc, yêu cầu điều chỉnh nào.

Căn cứ theo Thỏa thuận đặt mua được ký kết giữa ông Nguyễn Hữu H và bà Dương Tuấn D tại mục chính sách đặc biệt tại sự kiện có ghi nhận: “Thu lại HĐ Crown Royal (63.200.000) đã trừ trong giá HĐ”. Tuy nhiên tính đến thời điểm ký Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI – 1806 – 009181 và tính đến thời điểm hiện tại các thủ tục pháp lý liên quan đến việc thu mua, chuyển nhượng Hợp đồng Crown

6

Royal chưa được thực hiện xong do bên Công ty TNHH C3 chưa xác nhận việc đồng ý chuyển nhượng Hợp đồng. Vì vậy, Hợp đồng Crown Royal vẫn thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D.

Về yêu cầu hoàn trả số tiền đã thanh toán.

Thứ nhất, tính đến thời điểm hiện tại tổng số tiền ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D thanh toán cho Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI – 1806 – 009181 là 70.000.000 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi triệu đồng) không phải số tiền 133.200.000 (Bằng chữ: một trăm ba mươi ba triệu hai trăm nghìn đồng) như yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D. Do, Hợp đồng Crown Royal vẫn thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D như được trình bày ở trên.

Thứ hai, như trình bày ở trên, Công ty R2 không vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng, thỏa thuận đặt mua mà hai bên đã ký kết, do đó việc yêu cầu hoàn trả số tiền đã thanh toán là không có cơ sở.

Thứ ba, trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng, Công ty R2 thực hiện theo đúng các thỏa thuận trong Hợp đồng hai bên đã ký kết. Bên cạnh đó, như đã trình bày ý kiến bên trên, Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI – 1806 – 009181 được ký giữa Công ty R2 với ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D vào ngày 22/7/2022 hoàn toàn tự nguyện, thiện chí và đồng ý của các bên theo quy định tại các Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 513 và Điều 514 của Bộ Luật dân sự 2015. Do đó, Hợp đồng này có hiệu lực và Công ty R2 kinh doanh hoàn hợp pháp theo quy định của pháp luật. Công ty R2 luôn thực hiện đúng các quy định của Hợp đồng và pháp luật nên Công ty R2 từ chối hoàn trả lại số tiền trên. Bên cạnh đó, Công ty R2 luôn luôn thiện chí cung cấp dịch vụ tốt nhất và hợp lý cho khách hàng.

Thứ tư, Theo thỏa thuận đặt mua tại mục Tiến độ thanh toán và Phụ lục hợp đồng số RI 1806 - 009181 được ký giữa ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D và Công ty R2 đã thống nhất tiến độ thanh toán Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI - 1806-009181 được chia làm 4 đợt:

Đợt 1: Ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D thanh toán cho Công ty R2 với số tiền là: 20.000.000 VNĐ (Bằng chữ: hai mươi triệu đồng) vào ngày 22 tháng 07 năm 2022. Đây là khoản thỏa thuận đặt mua (đặt cọc), mục đích khoản tiền thỏa thuận đặt mua này nhằm đảm bảo việc giao kết Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI – 1806 – 009181. Và khoản tiền này là khoản tiền thanh toán đầu tiên khi Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI – 1806 – 009181 được ký kết (đã thanh toán).

Đợt 2: Ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D thanh toán cho Công ty R2 với số tiền là: 50.000.000 VNĐ (Bằng chữ: năm mươi triệu đồng) vào ngày 25 tháng 07 năm 2022 (đã thanh toán).

7

Đợt 3: Ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D thanh toán cho Công ty R2 với số tiền là: 35.500.000 VNĐ (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) vào ngày 22 tháng 07 năm 2023 (chưa thanh toán).

Đợt 4: Ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D thanh toán cho Công ty R2 với số tiền là: 35.500.000 VNĐ (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) vào ngày 22 tháng 07 năm 2024 (chưa đến hạn thanh toán).

Theo đó, Đ thanh toán thứ 3 với số tiền 35.500.000 VNĐ (Bằng chữ: Ba mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) vào ngày 22 tháng 07 năm 2023, ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D chưa thanh toán cho Công ty R2. Vì vậy, Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI – 1806 – 009181 được ký giữa Công ty R2 với ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D vào ngày 22/7/2022 đã hoàn toàn hết hiệu lực kể từ thời điểm ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D vi phạm nghĩa vụ thanh toán công nợ đợt 3. Phía Công ty R2 đã gửi Thông báo đơn phương chấm dứt Hợp đồng số 0708/2023/TB-RI ngày 08 tháng 8 năm 2023.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Tuấn D thống nhất toàn bộ ý kiến của ông H. Trường hợp Tòa án cho ông H và bà D nhận lại tiền thì bà đồng ý để ông H nhận tiền.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H đã tuyên:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H đối với các yêu cầu sau:

Yêu cầu hủy hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI-1806-009181 ngày 22/7/2022 ký giữa Công ty TNHH R3 với ông Nguyễn Hữu H và bà Dương Tuấn D.

Yêu cầu buộc Công ty TNHH R3 phải trả lại ông Nguyễn Hữu H và bà Dương Tuấn D khoản tiền đặt cọc đã đóng và đã thu là 133.200.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 03/5/2024, ông Nguyễn Hữu H có đơn kháng cáo vì cho rằng Tòa cấp sơ thẩm xét xử đã vi phạm tố tụng nghiêm trọng, tuyên bản án thiếu khách quan và chưa đúng quy định pháp luật cụ thể: phía nguyên đơn cùng luật sư của nguyên đơn đã đưa ra nhiều chứng cứ thể hiện phía bị đơn đã lừa dối trong giao dịch dân sự, làm cho phía nguyên đơn hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác lập giao dịch đó. Căn cứ Điều 127 và Điều 140 Bộ luật Dân sự thì bị đơn đã có hành vi lừa dối nguyên đơn, có dấu hiệu lừa đảo lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của nguyên đơn theo quy định của Điều 174, 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng Tòa cấp sơ thẩm cố tình làm ngơ trách nhiệm của bị đơn. Vì vậy, ông H kháng cáo yêu cầu Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm buộc bị

8

đơn trả lại cho ông H và bà D số tiền đã thu và thu mua lại là 133.200.000 đồng nếu thu thập đầy đủ các chứng cứ tại tòa phúc thẩm. Còn trong trường hợp việc thực hiện thu thập chứng cứ chưa đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được thì ông H yêu cầu hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn sửa bản án dân sự sơ thẩm

Bị đơn đề nghị Tòa không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:

  • + Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
  • + Về nội dung: Xét thấy, nội dung kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu quan điểm, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn còn trong thời hạn kháng cáo theo qui định tại Điều 273 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét việc ông H xin hoãn phiên tòa để thu thập chứng cứ, cụ thể yêu cầu bị đơn xuất trình bản gốc hợp pháp hóa lãnh sự đối với việc bị đơn được ủy quyền độc quyền từ Tập đoàn R4 đến từ Hoa kỳ và yêu cầu Bảo hiểm xã hội Q cung cấp thông tin số lao động do bị đơn quản lý tham gia bảo hiểm xã hội, thu thập Bản án phúc thẩm số 355 ngày 27/3/2023 và Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ngày 28/6/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố H để giải quyết vụ kiện. Xét thấy, yêu cầu này của ông H là không cần thiết nên Hội đồng xét xử không chấp nhận hoãn phiên tòa phúc thẩm.

9

[2] Về nội dung kháng cáo:

Xét nội dung kháng cáo ông H cho rằng ông ký Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI-1806-009181 ngày 22/7/2022 với Công ty TNHH R5 trong tình trạng hợp đồng mẫu do công ty S sẵn, các thông tin của công ty cung cấp cho ông là khách hàng không trung thực, nhiều nội dung gây nhầm lẫn, không đầy đủ, sai lệch, không chính xác trái Điều 10 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, điều kiện thực hiện quyền nghỉ dưỡng theo hợp đồng của Công ty R2 không minh bạch, trái thông lệ thực tiễn và áp đặt, bất lợi cho khách hàng - người tiêu dùng.

[2.1] Xét quá trình giao kết hợp đồng:

Việc các bên giao kết Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI-1806-009181 ngày 22/7/2022 cùng các Phụ lục A, B kèm theo hợp đồng ngay cùng trong thời điểm phía bị đơn tiến hành tổ chức sự kiện, phía bị đơn đưa ra bộ hợp đồng mẫu 23 trang do bị đơn in sẵn. Việc này cho thấy, phía nguyên đơn cho rằng ký hợp đồng trong tình trạng chưa được nghiên cứu, xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ký hợp đồng là có cơ sở, bởi căn cứ khoản 1 Điều 17 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: “Khi giao kết hợp đồng theo mẫu, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải dành thời gian hợp lý để người tiêu dùng nghiên cứu hợp đồng”.

[2.2] Xét quá trình thực hiện hợp đồng:

Nhận thấy, sau khi ký hợp đồng, ngày 29/7/2022 ông H đăng ký đặt kỳ nghỉ cho 02 người lớn tại Singapore từ ngày 16 đến ngày 23/8/2022 nhưng phía Công ty R2 từ chối với lý do “Hiện tại nơi nghỉ dưỡng Singapore chưa nằm trên hệ thống liên kết trao đổi của Resorts International Việt Nam trong năm 2022”.

Căn cứ vào khoản 3.1 Điều 3 của hợp đồng quy định về quyền trao đổi và công ty T1:

“Để tạo điều kiện cho khách nghỉ dưỡng lựa chọn nhiều cơ hội nghỉ dưỡng khác nhau do Công ty T1 cung cấp “Quyền trao đổi”, Công ty sẽ ký kết một thỏa thuận, theo đó khách nghỉ dưỡng sẽ trở thành thành viên và gia nhập một mạng lưới trao đổi Quốc tế (“mạng lưới trao đổi”) theo cách thức phù hợp với pháp luật Việt Nam. Điều này cho phép Khách Nghỉ Dưỡng được sử dụng dịch vụ Nghỉ Dưỡng tại các khu nghỉ dưỡng hoặc địa điểm Nghỉ Dưỡng khác trên toàn thế giới hoạt động theo cùng cách thức như tại khu nghỉ dưỡng.

Theo nội dung thỏa thuận này thì Công ty R2 là bên vi phạm vì đã không cung cấp dịch vụ nghỉ dưỡng tại Singapore theo yêu cầu của ông H.

Căn cứ Điều 15 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định: “Trường hợp hiểu khác nhau về nội dung hợp đồng thì tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giải quyết theo hướng có lợi cho người tiêu dùng”.

10

Xét thấy, ngày 01/8/2022 ông H tiếp tục đăng ký sử dụng Voucher, thẻ ưu đãi và quà tặng theo hợp đồng tuần nghỉ dưỡng cụ thể: Yêu cầu chuyến nghỉ dưỡng tại N cho 02 người lớn, 01 phòng, 04 đêm 05 ngày từ ngày 18 đến ngày 21/8/2022 và nghỉ dưỡng tại Huế cho 04 người lớn, 02 phòng, từ ngày 22 đến 25/8/2022. Nhưng phía công ty không đáp ứng, thể hiện trong nội dung thư điện tử ngày 02/8/2022 cho rằng hệ thống các địa điểm liên kết dành cho chuyến tặng đặc quyền hợp đồng 04 ngày 03 đêm dành cho 02 phòng ngủ hiện tại đang bao gồm các địa điểm như Đà Nẵng, N, Đ, P.

“...Trong trường hợp quý khách hàng có nhu cầu đặt chuyến nghỉ dưỡng tại địa điểm Huế hoặc N, quý khách có thể tham khảo quyền nghỉ dưỡng của Hợp đồng năm 2022 để đặt chuyến đi”.

Từ nội dung này một lần nữa chứng minh Công ty R2 tiếp tục vi phạm các thỏa thuận trong hợp đồng đã ký và có sự không rõ ràng bởi:

Tại Thư điện tử ngày 02/8/2022 phía công ty xác nhận chuyến tặng đặc quyền 04 ngày 03 đêm, 02 phòng ngủ có thể đáp ứng với số ngày từ 22 đến 25/8/2022 tại Huế và Hệ thống quyền nghỉ dưỡng Exchange có thể đáp ứng yêu cầu nghỉ dưỡng với số ngày từ 18 đến 22/8/2022 tại N. Tại Thư điện tử ngày 03/8/2022 ông H xác nhận đồng ý với nội dung này và đồng thời yêu cầu có buổi làm việc cụ thể để điều chỉnh cách đặt lịch kỳ nghỉ theo hợp đồng đã ký với công ty. Trong cùng ngày 03/8/2022 phía công ty gửi thư xác nhận về việc ông H đồng ý với nội dung thời gian nghỉ dưỡng này nhưng ngày 04/8/2022 thì phía Công ty đã đề xuất phương án chuyến nghỉ dưỡng tại N với yêu cầu của ông H gần phố cổ N thông qua hệ thống Exchange, khách hàng lựa chọn sử dụng hệ thống DEV (Free) tương ứng với 05 ngày 04 đêm trong tuần nhưng phía ông H yêu cầu thời gian nghỉ này phải sử dụng đầu tuần. Do không thống nhất được việc đặt lịch ông H yêu cầu được gặp trực tiếp người có thẩm quyền để làm việc. Ngày 08/8/2022 phía công ty gửi thư xác nhận đã nhận được thông tin khách hàng chưa đồng ý xác nhận chuyến đi nghỉ dưỡng tại N chỉ ghi nhận ý kiến và sẽ phản hồi lịch hẹn gặp mặt trao đổi về vấn đề hợp đồng trong khoảng thời gian từ 07 đến 14 ngày.

Ngày 18/8/2022 phía công ty có thư điện tử gửi ông H, bà D phản hồi thông tin về chuyến nghỉ dưỡng với lý do vì giai đoạn mùa hè cao điểm nên tất cả các địa điểm liên kết trên hệ thống quà tặng đều không còn phòng trống vào giai đoạn từ ngày 22/8 đến ngày 25/8/2022 và đề nghị ông H đặt chuyến nghỉ dưỡng vào khoảng thời gian từ ngày 28/8/2022 đến ngày 31/8/2022.

Do các yêu cầu đặt chuyến nghỉ dưỡng không đạt được, ông H đã khiếu nại và xin gặp trực tiếp người có thẩm quyền để trao đổi nhưng cũng không được phía công ty đáp ứng, chính vì vậy mà ông H đã khiếu nại và khởi kiện.

Xét thấy, từ những tình tiết viện dẫn nêu trên Hội đồng xét xử có cơ sở xác định vào thời điểm ông H đặt chuyến nghỉ dưỡng quà tặng tại Huế phía công ty

11

không thu xếp được và từ chối cung cấp dịch vụ cho khách hàng với lý do “vì giai đoạn mùa hè cao điểm nên tất cả các địa điểm liên kết trên hệ thống quà tặng đều không còn phòng trống vào giai đoạn từ 22/8-25/8/2022 và đề nghị ông H đặt chuyến nghỉ dưỡng vào khoảng thời gian từ 28/8/2022-31/8/2022”

Lý do này của công ty là không thể chấp nhận, vì căn cứ vào điểm d mục 1.6 Điều I của Phụ lục B quy định về nội dung quyền nghỉ dưỡng: “Trường hợp Công ty hoặc Công ty quản lý không thể thu xếp được căn hộ nghỉ dưỡng như đã đặt chỗ, Công ty được quyền thu xếp cho khách nghỉ dưỡng lưu trú tại căn hộ, khách sạn/biệt thự/bungalow khác với tiêu chuẩn bằng hoặc cao hơn ở trong hoặc ngoài phạm vi khu nghỉ dưỡng”.

Công ty không có quyền từ chối cung cấp dịch vụ cho khách hàng, việc công ty từ chối vì lý do nêu trên thì đây chính là lỗi vi phạm hợp đồng của công ty. Việc công ty Đ1 gợi ý cho khách hàng đặt chỗ tại thời điểm khác không thể là quyền của công ty, việc khách hàng từ chối đề nghị này là quyền của khách hàng, ông H, bà D không có lỗi. Bản án sơ thẩm nhận định bị đơn không có lỗi là không đúng với thực tế và bản chất sự việc.

Do bị đơn vi phạm nghiêm trọng hợp đồng nên hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu hủy bỏ hợp đồng của nguyên đơn.

Đối với việc nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ số tiền 133.200.000 đồng, trong đó có số tiền nguyên đơn đã nộp là 70.000.000 đồng và số tiền 63.200.000 đồng hai bên thỏa thuận công ty thu mua lại hợp đồng Crown R (đã trừ trong giá hợp đồng).

Xét thấy, Trong Thỏa thuận đặt mua mà công ty và ông H bà D ký thể hiện nội dung: ông H bà D đặt mua Kỳ Nghỉ Gia Đình với giá trị hợp đồng là 141.000.000 đồng theo đó công ty chấp nhận thu mua lại hợp đồng nghỉ dưỡng Crown Royal trị giá 63.200.000 đồng (đã trừ trong giá hợp đồng). Ngay tại thời điểm ký thỏa thuận và hợp đồng ông H đã thanh toán 70.000.000 đồng, số tiền 71.000.000 đồng còn lại sẽ được thanh toán làm 02 kỳ cụ thể ngày 22/7/2023 thanh toán 35.500.000 đồng; ngày 22/7/2024 thanh toán 35.500.000 đồng.

Nhưng sau khi đặt chỗ không thành công ông H đã khiếu nại và sau đó khởi kiện tại Tòa án. Trong thời gian Tòa án thụ lý giải quyết thì ngày 08/8/2023 Công ty đã có Thông báo đơn phương chấp dứt hợp đồng số 0708/2023/TB-RI với lý do ông H bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán công nợ đợt 3 nên hợp đồng này đã hết hiệu lực từ ngày 23/7/2023 là không có căn cứ.

Đối với việc thu mua lại hợp đồng nghỉ dưỡng Crown Royal trị giá 63.200.000 đồng. Xét thấy ông H chưa cung cấp được văn bản của Công ty C3 về việc chấp thuận cho ông H bà D chuyển nhượng lại hợp đồng và cho đến nay hợp đồng này vẫn thuộc quyền sở hữu của ông H bà D

12

Từ phân tích trên hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông H sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H, hủy Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI – 1806 – 009181 được ký giữa Công ty R2 với ông Nguyễn Hữu H - bà Dương Tuấn D vào ngày 22/7/2022. Buộc Công ty R2 phải hoàn trả lại cho ông H, bà D số tiền 70.000.000 đồng. Trường hợp Công ty TNHH R1 đã nhận bản chính Hợp đồng CR002226LV ngày 16/12/2020 của ông Nguyễn Hữu H, bà Dương Tuấn D thì phải hoàn trả lại cho ông H, bà D bản chính Hợp đồng CR002226LV ngày 16/12/2020.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do sửa bản án sơ thẩm nên phải sửa lại án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp. Công ty R2 phải chịu số tiền án phí trên số tiền phải trả cho ông H, bà D là 3.500.000 đồng.

[3]. Án phí dân sự phúc thẩm:

Do sửa án sơ thẩm nên ông H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 228, Điều 298, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H.
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu H đối với các yêu cầu sau:
      1. Hủy Hợp đồng Kỳ Nghỉ Gia Đình số RI-1806-009181 ngày 22/7/2022 ký giữa Công ty TNHH R1 với ông Nguyễn Hữu H và bà Dương Tuấn D.
      2. Buộc Công ty TNHH R1 phải trả lại cho ông Nguyễn Hữu H, bà Dương Tuấn D khoản tiền đã thanh toán là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).
    2. Trường hợp Công ty TNHH R1 đã nhận bản chính Hợp đồng CR002226LV ngày 16/12/2020 của ông Nguyễn Hữu H, bà Dương Tuấn D thì phải hoàn trả lại cho ông H, bà D bản chính Hợp đồng CR002226LV ngày 16/12/2020.
  3. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thì hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải

13

trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn Công ty TNHH R1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng).

  1. Án phí dân sự phúc thẩm:

Ông H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại TP. H;
  • - VKSND Cấp cao tại TP. H;
  • - VKSND TP. H;
  • - Cục THADS Tp.H;
  • - TAND Quận A;
  • - Chi cục THADS Quận A;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Trần Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 825/2024/DS-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 825/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 110/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger