Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 825/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12 - 9 - 2024

V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Vân
  2. Ông Nguyễn Tấn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 437/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về ly hôn và tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 257/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh P, sinh năm: 1985
  • Địa chỉ: C N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Bị đơn: Anh Nguyễn Chí H, sinh năm: 1975
  • Địa chỉ: C N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Chí H đăng ký kết hôn số 94 ngày 01/8/2013 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, tự nguyện, có tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc thường xuyên mâu thuẫn, cãi nhau nhiều lần và anh H còn đánh đập chị. Nguyên nhân mâu thuẫn từ việc đông con, kinh tế khó khăn, anh H công việc bấp bênh, thường xuyên thất nghiệp, chị phải lo bươn chải kiếm sống nhưng anh H không quan tâm chia sẻ. Đến tháng 3/2024 vợ chồng mâu thuẫn gay gắt và tự sống ly thân đến nay.

Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Chị không thể nào chung sống với anh H được nữa nên chị quyết định xin ly hôn anh H để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Trung K, sinh ngày 10/3/2009; Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/02/2011 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 31/7/2015. Sức khỏe các cháu bình thường, hiện nay cháu K1 đang ở với chị. Còn cháu K và cháu Đ đang ở với anh H. Khi ly hôn chị xin nuôi cháu K1, anh H nuôi cháu K và cháu Đ. Về việc cấp dưỡng nuôi con thì vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Toà giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Tòa giải quyết.

Tại bản khai ngày 19/6/2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyêt vụ án bị đơn anh Nguyễn Chí H trình bày: Thống nhất về thời gian, điều kiện kết hôn như chị P đã khai. Anh và chị Nguyễn Thị Thanh P đăng ký kết hôn số 94 ngày 01/8/2013 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, tự nguyện, có tìm hiểu. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc bình thường và cũng có lúc xảy ra mâu thuẫn nhưng không lớn.Thời gian gần đây chị P chơi TikTok và muốn bỏ chồng con. Anh vẫn còn thương yêu vợ nhưng chị P không tôn trọng chồng nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nay chị P xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Nguyễn Trung K, sinh ngày 10/3/2009; Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/02/2011 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 31/7/2015. Sức khỏe các cháu bình thường, hiện nay cháu K1 đang ở với chị P. Còn cháu K và cháu Đ đang ở với anh. Khi ly hôn anh đồng ý chị P nuôi cháu K1. Còn anh nuôi cháu K và cháu Đ. Về việc cấp dưỡng nuôi con thì vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Toà giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Tòa giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn anh Nguyễn Chí H không thực hiện theo quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh P. Cho chị Nguyễn Thị Thanh P ly hôn anh Nguyễn Chí H. Giao cháu Nguyễn Minh K1, sinh ngày 31/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Trung K, sinh ngày 10/3/2009 và cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/02/2011 cho anh Nguyễn Chí H trực tiếp nuôi dưỡng.Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị P và anh H không yêu cầu nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Thanh P là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Chí H là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Nguyễn Chí H là hôn nhân hợp pháp. Theo chị P trình bày, chị xin ly hôn anh H vì tình cảm vợ chồng không còn là do không hợp nhau về cách sống, lối sống, quan điểm sống đối lập nhau, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn từ việc đông con, kinh tế gia đình khó khăn, anh H công việc bấp bênh, thường xuyên thất nghiệp, anh H không quan tâm chia sẻ nên vợ chồng tự sống ly thân từ tháng 3/2024 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Chí H để ổn định cuộc sống riêng. Còn anh Nguyễn Chí H cho rằng vợ chồng có lúc xảy ra mâu thuẫn nhưng không lớn.Thời gian gần đây chị P chơi TikTok và muốn bỏ chồng con. Anh vẫn còn thương yêu vợ nhưng chị P không tôn trọng chồng nên cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Ngày 28/6/2024, Toà đã tiến hành hoà giải vụ án, chị P và anh H đã thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Đến ngày 04/7/2024 anh H làm đơn xin thay đổi biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành nên Toà tiến hành đưa vụ án ra xét xử. Toà đã triệu tập hợp lệ xét xử hai lần nhưng anh H vắng mặt, chứng tỏ anh H bỏ mặc cho hôn nhân tan vỡ, không đưa ra được biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy hôn nhân giữa chị P và anh H không còn thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng. Do đó hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó chị P xin ly hôn anh H là có căn cứ và cũng phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị P và anh H có 03 con chung là Nguyễn Trung K, sinh ngày 10/3/2009; Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/02/2011 và Nguyễn Minh K1, sinh ngày 31/7/2015. Sức khỏe các cháu bình thường hiện nay cháu K1 đang ở với chị P. Còn cháu K và cháu Đ đang ở với anh H. Quá trình giải quyết vụ án chị P và anh H thống nhất khi ly hôn chị P nuôi cháu K1. Còn anh H nuôi cháu K và cháu Đ. Về việc cấp dưỡng nuôi con thì vợ chồng tự giải quyết không yêu cầu Toà giải quyết.

Xét thấy: Hiện nay cháu K1 đang ở với chị P được chị P chăm sóc và cháu cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ. Còn cháu K và cháu Đ đang ở với anh H và được anh H chăm sóc, hiện tại các cháu đều khoẻ mạnh. Hơn nữa, cháu K và cháu Đ cũng có nguyện vọng muốn ở với anh H. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của các cháu, do đó chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1, còn anh H nuôi dưỡng cháu K và cháu Đ là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Về việc cấp dưỡng nuôi con chị P và anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị P và anh H không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.

[5] Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị Thanh P phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[6] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thanh P là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào điểm a,b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Thanh P ly hôn anh Nguyễn Chí H.
  2. Về con chung:
    • - Giao cháu Nguyễn Minh K1, sinh ngày 31/7/2015 cho chị Nguyễn Thị Thanh P trực tiếp nuôi dưỡng.
    • - Giao cháu Nguyễn Trung K, sinh ngày 10/3/2009 và cháu Nguyễn Tiến Đ, sinh ngày 03/02/2011 cho anh Nguyễn Chí H trực tiếp nuôi dưỡng.
    • - Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị P và anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

    Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.

  3. Về tài sản chung: Chị P và anh H không yêu cầu nên Tòa không giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thanh P phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tạm ứng án phí theo biên lai số 0001002 ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị P đã nộp đủ án phí.
  1. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  2. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - VKSND thành phố Quy Nhơn;
  • - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn;
  • - UBND P. Ngô Mây, TP.Quy Nhơn (số 94/2013);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 825/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 825/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger