|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 824/2024/DS-ST
Ngày 26-09-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoài
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Văn Dương
- Ông Nguyễn Văn Vân
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 09 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 700/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 528/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 603/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 09 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ; địa chỉ trụ sở: số B đường N, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội;
- Bị đơn: Ông Phạm Minh T, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ H, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có: Bà Lê Thị L, sinh năm 1995, bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1990, ông Trần Đức N, sinh năm 1997; cùng địa chỉ: số B đường L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 26 tháng 09 năm 2014 nguyên đơn và bị đơn có ký kết Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 2309/2014/HĐTD/CN.NVT (viết tắt: Hợp đồng tín dụng số 2309) với nội dung: nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 160.000.000 đồng, lãi suất vay là 11,2%/năm, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay tiêu dùng.
Thực hiện hợp đồng, ngày 26 tháng 09 năm 2014 nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn vay số tiền 160.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 2309/2014 ngày 26 tháng 09 năm 2014, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán nợ như sau: từ kỳ thứ 01 đến kỳ thứ 59 (mỗi kỳ là một tháng) bị đơn phải trả cho nguyên đơn 2.667.000 đồng tiền nợ gốc, kỳ cuối cùng là 2.647.000 đồng và tiền lãi theo thực tế phát sinh trên số dư nợ gốc.
Sau khi được giải ngân bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn được 176.348.765 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 104.013.000 đồng, tiền lãi là 72.335.765 đồng, ngày thanh toán nợ cuối cùng là ngày 06 tháng 02 năm 2018.
Ngày 24 tháng 01 năm 2017, nguyên đơn và bị đơn tiếp tục ký kết Hợp đồng thấu chi số 41/2017/HĐHMTCTĐ/PVB-CNHCM.KHCN (viết tắt: Hợp đồng thấu chi số 41) với nội dung: nguyên đơn cho bị đơn vay hạn mức thấu chi là 180.000.000 đồng, lãi suất 9,8%/năm, thời hạn vay 12 tháng, mục đích vay là thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ và các mục đích tiêu dùng khác của bị đơn.
Thực hiện hợp đồng, ngày 24 tháng 01 năm 2017 nguyên đơn giải ngân hạn mức thấu chi trực tiếp vào tài khoản thanh toán số [...] của bị đơn số tiền 180.000.000 đồng, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán một phần hoặc toàn bộ số tiền thấu chi hàng tháng nhưng phải thanh toán toàn bộ vào ngày kết thúc thời hạn hạn mức thấu chi là ngày 24 tháng 01 năm 2018; bị đơn phải trả tiền lãi định kỳ vào ngày 05 hàng tháng và ngày cuối cùng của thời hạn hạn mức thấu chi.
Sau khi được giải ngân tính đến thời điểm ngày 19 tháng 08 năm 2023, bị đơn đã trả 13.286.600 đồng, trong đó nợ gốc là 6.963.973 đồng, nợ lãi là 6.322.627 đồng; số dư nợ tính đến ngày 19 tháng 08 năm 2023 là 326.430.694 đồng, trong đó nợ gốc là 173.036.027 đồng, nợ lãi là 153.394.667 đồng. Ngày trả nợ cuối cùng là ngày 22 tháng 03 năm 2018.
Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 19 tháng 08 năm 2023 phát sinh từ hai hợp đồng trên là 439.463.992 đồng, trong đó nợ gốc là 229.023.027 đồng, nợ lãi là 210.440.965 đồng, và tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20 tháng 08 năm 2023 đến khi bị đơn thanh toán hết khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng trên.
Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân bị đơn trả khoản nợ trên, không yêu cầu chồng của bị đơn cùng chịu trách nhiệm trả nợ với bị đơn.
Ý kiến của bị đơn: Bị đơn vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải trả toàn bộ tiền nợ gốc, tiền lãi tính đến ngày 26 tháng 09 năm 2024 của hai hợp đồng tín dụng trên là 481.726.127 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, và tiền lãi quá hạn kể từ ngày 27 tháng 09 năm 2024 đến khi bị đơn trả hết khoản nợ theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ nêu trên.
Bị đơn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định, tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn không có yêu cầu phản tố và vắng mặt không có lý do, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về yêu cầu của các đương sự:
[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
[3.1.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26 tháng 09 năm 2024 là 481.726.127 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 2309 và khế ước nhận nợ số 2309/2014 cùng ngày 26 tháng 09 năm 2014, bản tự khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền nợ gốc 160.000.000 đồng. Mỗi tháng bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn 2.667.000 tiền nợ gốc (tháng cuối cùng là 2.647.000 đồng) và tiền lãi theo thực tế phát sinh trên số dư nợ gốc. Tính đến ngày 26 tháng 09 năm 2024 bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn được 176.348.765 đồng, trong đó tiền
nợ gốc là 104.013.000 đồng, tiền lãi là 72.335.765 đồng, còn nợ lại nguyên đơn số tiền là 125.025.130 đồng, trong đó: nợ gốc là 55.987.000 đồng, tiền lãi là 69.038.130 đồng, ngày bị đơn thanh toán nợ cuối cùng là ngày 06 tháng 02 năm 2018, như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đối với hợp đồng tín dụng trên.
Căn cứ Hợp đồng thấu chi số 41 ngày 24 tháng 01 năm 2017, bản tự khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định nguyên đơn đã giải ngân số tiền vay thấu chi cho bị đơn là 180.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của bị đơn; ngày bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi của Hợp đồng này là ngày 24 tháng 01 năm 2018; tuy nhiên, tính đến ngày 26 tháng 09 năm 2024, bị đơn mới thanh toán cho nguyên đơn được 13.286.600 đồng, trong đó nợ gốc là 6.963.973 đồng, nợ lãi là 6.322.627 đồng, còn nợ nguyên đơn số tiền tổng cộng là 356.700.997 đồng, trong đó: nợ gốc là 173.036.027 đồng và tiền lãi là 183.664.970 đồng; như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ đối với hợp đồng tín dụng nêu trên.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, do đó, bị đơn phải gánh chịu hậu quả pháp lý của việc không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự .
Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ hai hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 26 tháng 09 năm 2024 là 481.726.127 đồng; cụ thể:
Số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 2309 là 125.025.130 đồng, trong đó: nợ gốc là 55.987.000 đồng, tiền lãi là 69.038.130 đồng;
Số tiền nợ gốc và lãi phát sinh từ Hợp đồng thấu chi số 41 ngày 24 tháng 01 năm 2017 là 356.700.997 đồng, trong đó: nợ gốc là 173.036.027 đồng và tiền lãi là 183.664.970 đồng;
Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3.1.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng tính trên số dư nợ gốc kể từ ngày 27 tháng 09 năm 2024 cho đến khi bị đơn thanh toán xong khoản nợ trên:
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn là hợp pháp nên chấp nhận, buộc bị đơn phải tiếp tục thanh toán lãi quá hạn đối với khoản nợ gốc kể từ sau khi tuyên án sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân.
[4] Đối với phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy: quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.269.045 đồng.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Điều 13 Nghị quyết 01/2019/ NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Phạm Minh T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26 tháng 09 năm 2024 là 125.025.130 đồng (Một trăm hai mươi lăm triệu không trăm hai mươi lăm nghìn một trăm ba mươi đồng), trong đó: nợ gốc là 55.987.000 đồng, tiền lãi là 69.038.130 đồng, phát sinh từ Hợp đồng cho vay trả góp bằng lương số 2309/2014/HĐTD/CN.NVT ngày 26 tháng 09 năm 2014;
Buộc ông Phạm Minh T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 26 tháng 09 năm 2024 là 356.700.997 đồng (Ba trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng), trong đó: nợ gốc là 173.036.027 đồng và tiền lãi là 183.664.970 đồng, phát sinh từ Hợp đồng hạn mức thấu chi số 41/2017/HĐHMTCTĐ/PVB-CNHCM.KHCN ngày 24 tháng 01 năm 2017;
Tổng cộng số tiền gốc và lãi ông Phạm Minh T phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ là 481.726.127 đồng (Bốn trăm tám mươi mốt triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn một trăm hai mươi bảy đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Phạm Minh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 23.269.045 đồng (Hai mươi ba triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn không trăm bốn mươi lăm đồng).
Hoàn lại số tiền tạm tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP Đ là 10.789.280 đồng (Mười triệu bảy trăm tám mươi chín nghìn hai trăm tám mươi đồng) theo biên lai thu số AA/2023/0018811 ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
mà các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP Đ thì lãi suất ông Phạm Minh T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP Đ theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP Đ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoài |
Bản án số 824/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 824/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
