|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 821/2024/HS-PT Ngày: 12 – 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười
Các Thẩm phán: Ông Cao Văn Tám
Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 590/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Diễm T, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1993 tại tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: ấp T, xã L, T (nay là thành phố) Gò Công, tỉnh Tiền Giang; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; nghề nghiệp: làm thuê; giới tính: nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Dương Thị L; bị cáo có chồng (đã ly hôn) và 03 con (lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 17 tháng 5 năm 2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Môi giới mại dâm”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù. Bị bắt tạm giam từ ngày 19 tháng 5 năm 2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại kháng cáo:
Ông Trà Văn T2, sinh năm 1979; nơi thường trú: thôn V, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; nơi tạm trú: Căn hộ B - S, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Thị Diễm T: Ông Phùng Văn H – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị N sinh năm 1986; nơi thường trú: khóm N, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.
2. Bà Nguyễn Thị Diễm S sinh năm 1991; nơi thường trú: ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nơi tạm trú: số A đường L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Diễm T (tên gọi khác Nguyễn Hoàng Y) và ông Trà Văn T2 có mối quan hệ quen biết nhau.
Khoảng đầu tháng 5 năm 2019, do kinh doanh bị thua lỗ, không có tiền trả nợ nên T nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để ký hợp đồng đặt cọc chiếm đoạt tiền của ông T2. Sau đó, T đặt người tên P (không rõ địa chỉ) làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 8454, tờ bản đồ số 4, diện tích: 128,4 m², địa chỉ: khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương tên Nguyễn Hoàng Y với giá 3.000.000 (ba triệu) đồng và 01 Giấy chứng minh nhân dân giả số [...] tên Nguyễn Hoàng Y, sinh năm 1983, nơi cư trú: 257/9, khu phố D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và chứng minh nhân dân giả tên Nguyễn Hoàng Y, T giới thiệu cho ông T2 thửa đất số 8454, tờ bản đồ số 4, tại khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/7/2017, số CS 13756 (gọi tắt là thửa 8454) do T đứng tên sử dụng đang cần chuyển nhượng với giá 2.700.000.000 (hai tỷ bảy trăm triệu) đồng. T đưa cho ông T2 xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 8454 tên Nguyễn Hoàng Y (bản chính) và 01 Giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Hoàng Y. Sau khi tìm hiểu giá thị trường và biết được vị trí thửa đất, ông T2 đồng ý nhận chuyển nhượng với giá nêu trên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2019, ông T2 đến quán nhậu “Hoàng Y” do T kinh doanh tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương ký Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc chuyển nhượng thửa đất thửa số 8454, ông T2 đặt cọc 1.000.000.000 (một tỷ) đồng, T sử dụng họ tên Nguyễn Hoàng Y ký hợp đồng đặt cọc với ông T2. Ông T2 và T thỏa thuận đến ngày 15 tháng 6 năm 2019 sẽ đưa tiếp cho T 700.000.000 (bảy trăm triệu) đồng, còn 1.000.000.000 (một tỷ) đồng khi ông T2 làm thủ tục vay tiền ngân hàng và được giải ngân, hai bên sẽ ra Văn phòng công chứng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Khoảng đầu tháng 6 năm 2019, T biết ông T2 phải vay tiền ngân hàng để trả tiền chuyển nhượng đất cho T khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất, đồng thời T sợ ông T2 phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên T nói dối ông T2 đang phải vay tiền bên ngoài lãi suất cao để làm dự án bất động sản tại C, N, Kiên Giang, T đề nghị ông T2 không công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà để T sử dụng thửa đất 8454 thế chấp ngân hàng vay tiền. Khi các dự án bất động sản chuyển nhượng xong sẽ tất toán với ngân hàng và công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 8454 cho ông T2, ông T2 đồng ý.
Ngoài ra, từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 6 năm 2020, T tiếp tục hỏi vay tiền của ông T2 để đầu tư bất động sản tại Kiên Giang, C, N. Ông T2 nhiều lần chuyển tiền cho T thông qua số tài khoản của Nguyễn Thị N (bạn của T) tại Ngân hàng TMCP S1 (S2) - Chi nhánh B với tổng cộng 6.735.900.000 (sáu tỷ bảy trăm ba mươi lăm triệu chín trăm nghìn) đồng và chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Thị Diễm S (chị ruột của T) tại Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh T7 (năm mươi triệu) đồng. Tổng số tiền ông T2 cho T vay là 7.000.000.000 (bảy tỷ) đồng, ông T2 và T xác nhận là tiền vay mượn giữa hai bên.
Bản kết luận giám định số 534/GĐ-PC09 ngày 30 tháng 12 năm 2020, Phòng K Công an tỉnh B kết luận chữ viết, chữ ký tên Nguyễn Hoàng Y và chữ ký không ghi họ tên dưới mục người nhận tiền trên 01 Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc đề ngày 15 tháng 5 năm 2019 so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị Diễm T trên các tài liệu mẫu do cùng một người viết và ký ra.
Bản kết luận giám định số 08/GĐ-PC09 ngày 28 tháng 12 năm 2021, Phòng K Công an tỉnh B kết luận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 318570 tên Nguyễn Hoàng Y và giấy chứng minh nhân dân số [...] tên Nguyễn Hoàng Y là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
Kết quả xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B - Chi nhánh thành phố D: Thửa đất số 8454 tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, diện tích: 128,4 m² được cấp ngày 15/7/2017, CH 13756 do bà Nguyễn Thị O sử dụng. Ngày 18 tháng 9 năm 2017, bà O cùng chồng Võ Tá N1 chuyển nhượng cho ông Dương Văn T3. Ngày 20/12/2017, ông Dương Văn T3 cùng vợ là Đoàn Thị T4 chuyển nhượng cho ông Phan Xuân Y1. Ngày 07 tháng 5 năm 2019, ông Phan Xuân Y1 cùng vợ là Hoàng Thị L1 chuyển nhượng cho ông Đỗ Thanh T5. Ngày 16 tháng 9 năm 2019, ông Đỗ Thanh T5 cùng vợ là Diệp Thị Yến N2 chuyển nhượng cho bà Phạm Thị Diệu T6. Ngày 05 tháng 10 năm 2020, bà Phạm Thị Diệu T6 cùng chồng là Phạm Viết H1 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn V.
Cáo trạng số: 78/CT-VKSBD-P1 ngày 01 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Diễm T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 28/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Diễm T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm T 13 (mười ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Diễm T 02 (hai) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự: Tổng hợp hình phạt cho 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19 tháng 5 năm 2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/6/2024 bị hại ông Trà Văn T2 làm đơn kháng cáo, đề nghị Tòa phúc thẩm xem xét tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Diễm T, làm rõ các đồng phạm, người giúp sức trong vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
Yêu cầu kháng cáo của người bị hại là có căn cứ:
- Bị cáo đã dùng thủ đoạn tinh vi để chiếm đoạt của ông T2 số tiền 1 tỷ đồng. Riêng đối với số tiền 7 tỷ đồng Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đây là giao dịch dân sự và tuyên buộc phần trách nhiệm dân sự là không đúng.
- Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ vai trò đồng phạm của bà N là có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm.
Đề nghị hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để điều tra và giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm như sau:
Bản án sơ thẩm là có căn cứ và đúng pháp luật. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Đối với yêu cầu kháng cáo của người bị hại thấy rằng:
[1.1] Trong vụ án này, sau khi nghiên cứu, xem xét và đánh giá các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong quá trình điều tra, và đặc biệt là lời khai nhận của bị cáo T, người bị hại T2 tại phiên tòa phúc thẩm đã cho thấy: việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo T có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người bị hại với số tiền 1.000.000.000 đồng là không phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án, cũng như lời thừa nhận của bị cáo T, của người bị hại tại phiên tòa phúc thẩm.
Theo đó, để có tiền trang trải, tiêu xài cá nhân, sau khi chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng của người bị hại từ việc làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hứa chuyển nhượng diện tích đất không có thật, bị cáo T tiếp tục đưa ra thông tin gian dối rằng hiện nay bị cáo đang đầu tư nhiều dự án bất động sản tại C, N và Kiên Giang nên đang cần huy động thêm vốn để người bị hại tin tưởng. Và thực tế, vì tin tưởng vào những thông tin gian dối này của bị cáo T, người bị hại đã tiếp tục giao cho bị cáo số tiền 7.000.000.000 đồng nữa. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận rằng không hề có dự án nào trên thực tế là của bị cáo.
Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định trong trường hợp này, bị cáo T đã thực hiện một chuỗi các hành vi gian dối để nhằm làm cho người bị hại tin tưởng, giao tiền và sau đó chiếm đoạt. Tổng số tiền người bị hại bị chiếm đoạt phải xác định là 8.000.000.000 đồng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo T chỉ chiếm đoạt của người bị hại số tiền 1.000.000.000 đồng là không phù hợp. Điều này đã ảnh hưởng đến việc xác định và đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
[1.2] Theo lời khai của người bị hại, trong vụ án này việc bị cáo T lừa đảo chiếm đoạt tiền của người bị hại là có sự giúp sức của đối tượng Nguyễn Thị N trong việc giới thiệu là “Thư ký riêng” của bị cáo T, là người cung cấp số tài khoản để ông T2 chuyển tiền. Tại các bản khai, đối tượng Nguyễn Thị N cũng thừa nhận việc cung cấp số tài khoản của mình để người bị hại chuyển tiền, và có một số lần trực tiếp đi rút tiền tại Ngân hàng sau đó giao lại cho bị cáo T. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã chưa tiến hành đối chất làm rõ về nội dung này là thu thập chứng cứ không đầy đủ và có dấu hiệu bỏ lọt đồng phạm.
[2] Ngoài ra, Bản án sơ thẩm xác định số tiền 7.000.000.000 đồng là không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T và cho rằng chỉ là giao dịch dân sự, nhưng tuyên buộc bị cáo phải hoàn trả cho người bị hại là không đúng thẩm quyền.
[3] Tóm lại: Do trong quá trình giải quyết vụ án này, cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ không đầy đủ, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, việc xác định số tiền chiếm đoạt không đúng và giải quyết vượt quá thẩm quyền. Những thiếu sót này Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, vì vậy cần hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại Trà Văn T2.
Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra và giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
||
|
Phạm Công Mười |
Bản án số 821/2024/HS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 821/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị hại Trà Văn T2. Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 60/2024/HS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra và giải quyết lại theo đúng quy định của pháp luật.
