TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 820/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05/7/2024.
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Vân.
2/ Ông Võ Văn Dương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 442/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 292/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 311/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21/6/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc Khả T, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 11/11/2022.
- Địa chỉ: Số C Tỉnh lộ 8, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Bị đơn Ông Phan Cao C, sinh năm 1986; (vắng mặt)
- Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 19/01/2017.
- Địa chỉ: Số A Tỉnh Lộ 15, ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn xin ly hôn và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Khả T trình bày:
Bà và ông Phan Cao C tìm hiểu thời gian khoảng một năm rưởi thì tự nguyện tiến tới hôn nhân, cưới nhau năm 2015, có tổ chức cưới, sau khi cưới hai vợ chồng ở bên nhà chồng tại địa chỉ số A, ấp P, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, chung sống hạnh phúc khoảng 03 năm. Đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẩn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau nữa nên bà về nhà cha mẹ ruột ở cho đến nay. Bà nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể hàn gắn nên nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Cao C.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: không có.
Các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình gồm: Chứng minh nhân dân + Sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn, đơn xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn có nơi cư trú tại xã A, huyện C nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh.
Ông C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng ông C vẫn không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến hay bất cứ tài liệu, chứng cứ gì có liên quan đến vụ kiện; Bà T có đơn xin vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C, bà T và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.
[2] Về nội dung:
Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc K T và ông Phan Cao C tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 11/3/2017 nên là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu của bà T xin ly hôn với ông C là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ: Theo lời trình bày của bà T thì mâu thuẩn giữa bà với ông C là trầm trọng và không thể hàn gắn. Cuộc sống vợ chồng của ông bà không hạnh phúc, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không còn họp nhau và hai vợ chồng không còn sống chung đến nay gần hai năm. Vì vậy, có cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa bà T và ông C không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẩn trầm trọng, đời sống chung của hai người không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nghĩa vụ dân sự chung: Bà T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Cần buộc bà T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014;
- Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban T1;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc Khả T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc Khả T được ly hôn với ông Phan Cao C.
Giấy chứng nhận kết hôn số 12, ngày 11/3/2017 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà T và ông C không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nghĩa vụ dân sự chung: Không có.
- Án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) buộc bà Nguyễn Ngọc K T phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015038 ngày 16/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh; Bà T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hùng Vương |
Bản án số 820/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 820/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
